Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Cập nhật quan trọng: Cơ sở y tế
CDC đã cập nhật một số phương thức chọn lọc để vận hành hệ thống y tế hiệu quả nhằm thích ứng với hoạt động tiêm chủng COVID-19. Tìm hiểu thêm
BẢN CẬP NHẬT
Với bằng chứng mới về biến thể B.1.617.2 (Delta), CDC đã cập nhật hướng dẫn dành cho những người được tiêm chủng đầy đủ. CDC khuyến nghị tất cả giáo viên, nhân viên, học sinh và khách đến trường K-12 nên đeo khẩu trang bất kể tình trạng tiêm chủng của họ như thế nào. Học sinh sẽ trở lại học toàn thời gian trên lớp vào mùa thu và nên áp dụng các chiến lược phòng ngừa theo lớp tại trường.
BẢN CẬP NHẬT
Nhà Trắng tuyên bố rằng du khách quốc tế bắt buộc phải có tiêm vắc-xin trước khi vào Hoa Kỳ và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 11 năm 2021. Đối với các mục đích vào Hoa Kỳ, vắc-xin được chấp nhận sẽ bao gồm các vắc-xin nằm trong danh sách được sử dụng khẩn cấp của WHO và được FDA phê duyệt hay cho phép sử dụng. Thông tin thêm có ở đây.
BẢN CẬP NHẬT
Yêu cầu khi du lịch vào Hoa Kỳ đang thay đổi, bắt đầu từ 8, 2021 tháng 11. Thông tin thêm có tại đây.

Điều chúng ta biết về cách ly và cô lập

Điều chúng ta biết về cách ly và cô lập
Cập nhật ngày 4 tháng 1 năm 2022
In

Cách ly và cô lập: Tìm hiểu Khuyến nghị mới nhất sau khi bị phơi nhiễm với COVID-19 hoặc nếu quý vị bị bệnh.

Tại sao CDC rút ngắn thời gian cách ly và cô lập đối với người dân

Các ca bệnh COVID-19 do nhiễm biến thể Omicron đã tăng lên cùng với sự gia tăng theo mùa của bệnh cúm và các bệnh lây nhiễm vi-rút đường hô hấp khác. Khả năng xuất hiện một số lượng lớn các ca bệnh gây ra lo ngại nghiêm trọng về tác động xã hội do bệnh tật, cũng như các yêu cầu về cách ly và cô lập[1]. CDC đã theo dõi tình hình khoa học mới xuất hiện về thời gian và khoảng thời gian mà một người có khả năng lây nhiễm tối đa với Omicron, cũng như hiệu quả của vắc-xin ngừa COVID-19 và liều tiêm nhắc lại để chống lại việc lây nhiễm Omicron. Dữ liệu liên quan đến ảnh hưởng sức khỏe tâm thần của đại dịch và việc tuân thủ các biện pháp can thiệp phòng ngừa cũng đã được xem xét.

Dữ liệu, bao gồm đánh giá 113 nghiên cứu từ 17 quốc gia, cho thấy rằng hầu hết việc lây truyền SARS-CoV-2 xảy ra sớm trong quá trình lây nhiễm[2,3]. Khả năng lây lan đạt đỉnh điểm khoảng một ngày trước khi khởi phát triệu chứng và giảm trong vòng một tuần kể từ khi khởi phát triệu chứng, với thời gian lây lan trung bình và nguy cơ lan truyền từ 2 - 3 ngày trước và 8 ngày sau khi bắt đầu có triệu chứng[2,3]. Những dữ liệu này lấy từ các nghiên cứu về các biến thể SARS-CoV-2 trước đây, bao gồm cả Delta. Khoa học ngày càng phát triển, đặc biệt là đối với biến thể Omicron và một số báo cáo cho thấy so với các biến thể trước đó, Omicron có thời gian ủ bệnh ngắn hơn (2 - 4 ngày), được xác định là thời gian từ khi bị nhiễm và khởi phát triệu chứng [4-6]. Tỷ lệ nhập viện và tử vong thấp hơn nhiều đối với những người được tiêm chủng đối với tất cả các biến thể SARS-CoV-2; dữ liệu sơ bộ từ Nam Phi cho thấy dữ liệu sơ bộ từ Nam Phi cho thấy tỷ lệ nhập viện và tử vong thấp hơn ở người dân bị nhiễm Omicron so với các biến thể khác.[7].  Các ước tính ban đầu về hiệu quả của vắc-xin thấp hơn đối với tình trạng lây nhiễm Omicron có triệu chứng sau khi đã tiêm loạt vắc-xin chính của Pfizer-BioNTech cho thấy rằng liều nhắc lại là quan trọng để cải thiện khả năng bảo vệ khỏi bị nhập viện và tử vong do nhiễm biến thể Omicron[8]. Sự lây lan của biến thể Omicron có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nhân sự và gia tăng các thách thức trong chuỗi cung ứng, gây nguy hiểm cho ngành công nghiệp, giáo dục và các hệ thống khác vốn cần thiết để duy trì một nền kinh tế và xã hội hoạt động. Đại dịch cũng đã có tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của người lớn ở Hoa Kỳ[9], phần lớn là do những lo ngại về kinh tế và xã hội[10]. Mặc dù nhiều người có ý định tự cô lập, nhưng cả cách ly và cô lập đều gặp nhiều khó khăn; đặc biệt là trong bối cảnh có nhiều ca nhiễm bệnh không có triệu chứng [11]. Các nghiên cứu cho thấy rằng chỉ một tỷ lệ nhỏ những người (25-30%) cô lập đủ 10 ngày [12,13].

Ngày 4 tháng 1, CDC đã cập nhật khuyến nghị về cách ly và cô lập liên quan tới COVID-19 với thời gian cô lập ngắn hơn (cho người bệnh nhẹ và không có triệu chứng) và giai đoạn cách ly kéo dài 5 ngày tập trung vào giai đoạn khi người đó có khả năng lây lan cao nhất, tiếp theo là tiếp tục đeo khẩu trang thêm 5 ngày. Những khuyến nghị cập nhật này cũng hỗ trợ các nhu cầu về xã hội và mạnh khỏe toàn diện cho cá nhân, quay trở lại làm việc và duy trì hoạt động cơ sở hạ tầng thiết yếu. Dữ liệu sơ bộ cho thấy biến thể Omicron có khả năng lây nhiễm cao gấp ba lần so với biến thể Delta [14]. Với thời gian cách ly và cô lập được khuyến nghị ngắn hơn, điều quan trọng là mọi người phải tiếp tục đeo khẩu trang vừa vặn và thực hiện các biện pháp phòng ngừa bổ sung trong 5 ngày sau khi hết thời gian cách ly hoặc cô lập [15]. Quý vị có thể kết thúc cô lập sau 5 ngày trọn vẹn nếu không bị sốt trong 24 giờ mà không dùng thuốc hạ sốt và các triệu chứng đã dần thuyên giảm. Điều quan trọng là phải đeo khẩu trang vừa vặn sau ngày 5 vì dữ liệu lập mô hình cho thấy gần một phần ba số người vẫn có khả năng lây nhiễm sau ngày 5 và có khả năng truyền vi-rút [16]. Sử dụng khẩu trang và các chiến lược phòng ngừa theo lớp, chẳng hạn như tiêm tất cả các liều tiêm chủng và nhắc lại được khuyến nghị, cách ly giao tiếp xã hội, xét nghiệm sàng lọc rửa tay và cải thiện thông khí chính là chìa khóa để ngăn chặn COVID-19 và giảm lây truyền.

Câu hỏi thường gặp

Tham khảo
  1. Khả năng gia tăng nhanh chóng số ca nhiễm biến thể Omicron ở Hoa Kỳ | CDC
  2. Meyerowitz EA, Richterman A, Gandhi RT, Sax PE. Transmission of SARS-CoV-2: a review of viral, host, and environmental factors. Ann Intern Med.external icon 2020 Sep 17: M20-5008.
  3. Peeling RW, Heymann DL, Teo Y, Garcia PJ. Diagnostics for COVID-19: moving from pandemic response to control. Lancet. Published online December 20, 2021: https://doi.org/10.1016/S0140-6736(21)02346-1external icon
  4. Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh. Investigation of a SARS-CoV-2-B.1.1.1.529 (Omicron) Variant Cluster-Nebraska- November-December 2021.  MMWR Early Release. Vol. 70. December 28, 2021.
  5. Brandel LT, MacDonald E, Veneti L, Ravio T, Lange H, Naseer U, et al. Outbreak caused by SARS-CoV-2 Omicron variant in Norway, November to December 2021.Euro Surveill.2021;26(50):pii=2101147  https://doi.org/10.2807/1560-7917.ES.2021.26.50.2101147external icon
  6. Lee JJ, Choe YJ, Jeong H, Kim M, Kim S, Yoo H, et al. Importation and transmission of SARS-CoV-2 B1.1.529 (Omicron) variant of concern in Korea, November 2021. J Korean Med Sci. 2021 Dec 27;36(50):e346 https://doi.org/10.3346/jkms.2021.36.e346 eISSN 1598-6357·pISSN 1011-8934
  7. Maslo C, Friedland R, Toubkin M, Laubscher A, Akaloo T, Kama B. Characteristics and outcomes of hospitalized patients in South Africa during the COVID-19 Omicron wave compared with previous waves. Published online December 30, 2021. doi:10.1001/jama.2021.24868
  8. Andrews N, Stowe J, Kirsebom F, Toffa S, Rickeard T, Gallagher E, et al. Effectiveness of COVID-19 vaccines against the Omicron (B.1.1.529) variant of concern. medRxiv.2021. doi: https://doi.org/10.1101/2021.12.14.21267615external icon
  9. Ettman CK, Abdalla SM, Cohen GH, Sampson L, Vivier PM, Galea S. Prevalence of depression symptoms in US adults before and during the COVID-19 pandemic. JAMA Network Open. 2020;3(9):e2019686. doi:10.1001/jamanetworkopen.2020.19686
  10. Ka¨mpfen F, Kohler IV, Ciancio A, Bruine de Bruin W, Maurer J, Kohler H-P. Predictors of mental health during the Covid-19 pandemic in the US: Role of economic concerns, health worries and social distancing. PLoS ONE 2020 15 (11): e0241895. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0241895external icon
  11. Ma Q, Liu J, Liu Q, Kang L, Liu R, Jing Q, et al. Global percentage of asymptomatic SARS-CoV-2 infections among the tested population and individuals with confirmed COVID-19 diagnosis. JAMA Netw Open2021;4(12):e2137257. doi:10.1001/jamanetworkopen.2021.37257
  12. Smith LE, Potts HWW, Amlôt R, Fear NT, Michie S, Rubin GJ. Adherence to the test, trace, and isolate system in the UK: results from 37 nationally representative surveys. : BMJ 2021;372:n608 http://dx.doi.org/10.1136/bmj.n608external icon.
  13. Smith LE, Amlôt R, lambert H, Oliver I, Robin C, Yardley L, Rubin GJ. Factors associated with adherence to self-isolation and lockdown measures in the UK: a cross-sectional survey. Public Health 2020. 187:41-52. https://doi.org/10.1016/j.puhe.2020.07.024external icon
  14. Ito K, Piantham C, Nishiura H. Relative instantaneous reproduction number of Omicron SARS-CoV-2 variant with respect to the Delta variant in Denmark. J Med Virol. 2021 Dec 30. doi: 10.1002/jmv.27560.
  15. Bản Tin Khoa Học: Sử dụng khẩu trang tại cộng đồng để kiểm soát sự lây lan của SARS-CoV-2 | CDC
  16. Bays D, Whiteley T, Pindar M, Taylor J, Walker B, Williams H, Finnie TJR, Gent N. Mitigating isolation: the use of rapid antigen testing to reduce the impact of self-isolation periods. medRxiv. 2021. https://doi.org/10.1101/2021.12.23.21268326external icon