Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Cập nhật quan trọng: Cơ sở y tế
CDC đã cập nhật một số phương thức chọn lọc để vận hành hệ thống y tế hiệu quả nhằm thích ứng với hoạt động tiêm chủng COVID-19. Tìm hiểu thêm
Để bảo vệ tối đa khỏi biến thể Delta và ngăn chặn khả năng lây lan biến thể này sang người khác, vui lòng hãy tiêm chủng càng sớm càng tốt và đeo khẩu trang ở trong nhà tại nơi công cộng nếu quý vị đang ở khu vực có mức độ lây truyền đáng kể hoặc cao.
BẢN CẬP NHẬT
Với bằng chứng mới về biến thể B.1.617.2 (Delta), CDC đã cập nhật hướng dẫn dành cho những người được tiêm chủng đầy đủ. CDC khuyến nghị tất cả giáo viên, nhân viên, học sinh và khách đến trường K-12 nên đeo khẩu trang bất kể tình trạng tiêm chủng của họ như thế nào. Học sinh sẽ trở lại học toàn thời gian trên lớp vào mùa thu và nên áp dụng các chiến lược phòng ngừa theo lớp tại trường.

Thông gió trong các tòa nhà

Thông gió trong các tòa nhà

Tóm Tắt các Thay Đổi Gần Đây

  • Thêm một câu hỏi thường gặp về hàng rào bảo vệ và hệ thống thông gió.

Xem những thay đổi trước đó

CDC khuyến cáo một phương pháp tiếp cận theo lớp để giảm phơi nhiễm SARS-CoV-2, loại vi-rút gây bệnh COVID-19. Cách tiếp cận này bao gồm sử dụng nhiều chiến lược giảm thiểu, gồm cải tạo hệ thống thông gió tòa nhà, để giảm sự lây lan của dịch bệnh và làm giảm nguy cơ phơi nhiễm. Ngoài cải tạo hệ thống thông gió, cách tiếp cận theo lớp gồm có đảm bảo giữ khoảng cáchđeo khẩu trang, vệ sinh taytiêm chủng.

Hạt vi-rút SARS-CoV-2 lây lan giữa mọi người dễ dàng trong nhà hơn ngoài trời. Ở trong nhà, nồng độ hạt vi-rút thường cao hơn ngoài trời, nơi mà chỉ một cơn gió nhẹ cũng có thể làm giảm nồng độ nhanh chóng. Khi ở trong nhà, các chiến lược giảm thiểu nhờ thông gió có thể giúp giảm nồng độ hạt vi-rút. Nồng độ càng thấp thì khả năng hít các hạt vi-rút vào phổi càng thấp (có thể làm giảm lượng hít vào); khả năng tiếp xúc với mắt, mũi và miệng; rời khỏi không khí để tích tụ trên các bề mặt, cũng càng thấp. Các biện pháp thông gió bảo vệ và can thiệp có thể làm giảm nồng độ trong không khí và làm giảm tổng lượng vi-rút đối với người hiện diện.

Trong hầu hết trường hợp, việc trở lại bên trong một tòa nhà trong đại dịch COVID-19 không nên đòi hỏi phải có hệ thống thông gió mới cho tòa nhà. Tuy nhiên, việc nâng cấp hoặc cải tạo hệ thống thông gió có thể làm tăng lưu lượng không khí sạch từ ngoài vào và làm loãng các thành phần ô nhiễm có thể có. Xin tư vấn từ các chuyên gia về điều hòa không khí, thông gió và sưởi ấm (HVAC) có kinh nghiệm khi cân nhắc tới việc thay đổi thiết bị và các hệ thống HVAC. Các tòa nhà có chất lượng không khí trong nhà lành mạnh, tuân thủ luật từ trước đại dịch có thể được cải tạo để sử dụng trong mùa dịch với những cách thức can thiệp ít tốn kém hơn. Dưới đây là danh sách các biện pháp can thiệp hệ thống thông gió có thể giúp giảm nồng độ các hạt vi-rút trong không khí. Các biện pháp này đại diện cho một danh sách "các công cụ trong bộ công cụ giảm thiểu nguy cơ", mỗi công cụ đều có thể góp phần vào việc giảm nguy cơ. Triển khai đồng thời nhiều công cụ là phù hợp với cách tiếp cận theo lớp của CDC và sẽ làm tăng hiệu quả chung của việc can thiệp vào hệ thống thông gió. Những biện pháp can thiệp hệ thống thông gió này có thể làm giảm nguy cơ phơi nhiễm với vi-rút và giảm lây lan dịch bệnh, nhưng sẽ không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ.

Mặc dù danh sách các công cụ có thể được áp dụng rộng rãi trong các môi trường trong nhà, nhưng việc áp dụng các công cụ này cho các loại tòa nhà, mức độ sử dụng và hoạt động khác nhau trong điều kiện thay đổi theo môi trường và theo mùa có thể là một thách thức. Sự kết hợp cụ thể của các công cụ được chọn để sử dụng tại bất kỳ thời điểm nào có thể thay đổi. Chủ sở hữu hoặc đơn vị vận hành điều hành tòa nhà (có được sự tư vấn của chuyên gia khi cần thiết) có quyền xác định những công cụ nào phù hợp cho từng tòa nhà trong suốt cả năm. Không chỉ các tòa nhà, mà phương tiện - bao gồm phương tiện giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện ngầm, tàu hỏa, xe buýt trường học, xe đi chung theo tuyến và không theo tuyến - cũng là những khu vực nơi có thể ứng dụng các loại cải tạo về thông gió để giảm sự lây lan của vi-rút và giảm bớt nguy cơ phơi nhiễm.

Các công cụ nhằm cải thiện khả năng thông gió

Một số biện pháp can thiệp sau đây là dựa trên Hướng Dẫn Vận Hành Tòa Nhà trong Đại Dịch COVID-19pdf icon[78 KB, 3 trang]external icon của Hiệp Hội Kỹ Sư Nhiệt Lạnh và Điều Hòa Không Khí Hoa Kỳ (ASHRAE). Không phải biện pháp can thiệp nào cũng sẽ có tác dụng trong mọi tình huống. Hãy thận trọng ở những khu vực ô nhiễm cao độ khi tăng mức thông gió từ ngoài trời vào.

Các công cụ sau xác định cách thức để cải thiện hệ thống thông gió:

  • Tăng đưa không khí ngoài trời vào:
    • Mở van điều tiết không khí ngoài trời vượt mức cài đặt tối thiểu để giảm hoặc loại bỏ việc lưu thông khí HVAC. Trong điều kiện thời tiết dễ chịu, việc này sẽ không ảnh hưởng đến độ ẩm hay cảm giác về nhiệt độ. Tuy nhiên, việc này có thể khó áp dụng trong điều kiện thời tiết lạnh, nóng hoặc ẩm, và có thể cần tham vấn với một chuyên gia HVAC giàu kinh nghiệm.
    • Mở cửa sổ và cửa ra vào khi điều kiện thời tiết cho phép, nhằm tăng lưu lượng không khí ngoài trời. Không mở cửa sổ và cửa ra vào nếu làm vậy gây ra nguy cơ về an toàn hoặc sức khỏe (VD: nguy cơ té ngã, kích hoạt các triệu chứng bệnh hen) đối với người ở trong tòa nhà. Cửa sổ dù chỉ mở hé cũng có thể đưa không khí ngoài trời có ích vào.
  • Sử dụng quạt để tăng hiệu quả lưu thông không khí khi mở cửa sổ:
    • Để làm điều này một cách an toàn, vị trí đặt quạt rất quan trọng và sẽ tùy thuộc vào hình dạng phòng. Tránh đặt quạt theo cách có khả năng luân chuyển không khí bị nhiễm mầm bệnh từ người này sang người khác một cách trực tiếp (xem Câu hỏi thường gặp đưới đây về sử dụng quạt trong nhà). Có một chiến lược hữu ích, đó là sử dụng quạt cạnh cửa sổ, quạt được đặt cẩn thận và an toàn bên cạnh một cửa sổ để thổi không khí trong phòng ra ngoài. Cách này sẽ giúp hút không khí trong lành vào trong phòng qua cửa sổ và cửa ra vào đang mở khác mà không tạo ra các dòng khí mạnh trong phòng. Kết quả tương tự có thể đạt được ở những cơ sở rộng hơn với hệ thống quạt khác, chẳng hạn như quạt đầu hồi nhà và quạt thông gió trần nhà.
  • Đảm bảo hệ thống thông gió hoạt động bình thường và cung cấp chất lượng không khí trong nhà ở mức chấp nhận được đối với lượng người hiện diện trong mỗi không gian.
  • Tái cân đối hoặc điều chỉnh hệ thống HVAC để tăng tổng lượng khí lưu tới các không gian có người hiện diện khi có thể.
  • Tắt mọi điều khiển thông gió được kiểm soát theo nhu cầu (DCV) có thể làm giảm lưu lượng không khí dựa trên việc sử dụng hoặc nhiệt độ trong giờ sử dụng. Tại nhà dân và tòa nhà nơi hệ thống vận hành quạt HVAC có thể được kiểm soát tại bộ điều chỉnh nhiệt, đặt quạt ở chế độ "bật" thay vì "tự động", việc này sẽ khiến quạt vận hành liên tục, kể cả khi không dùng hệ thống điều hòa không khí và sưởi.
  • Cải thiện hệ thống lọc không khí trung tâm:
    • Tăng thiết bị lọc không khíextnal icon càng cao càng tốt mà không làm giảm lưu lượng không khí một cách đáng kể. Việc tăng hiệu suất lọc không khí đặc biệt hữu ích khi các lựa chọn tăng cường đưa khí từ ngoài trời vào còn hạn chế.
    • Đảm bảo các bộ lọc không khí có kích thước phù hợp và nằm trong phạm vi tuổi thọ khuyến cáo.
    • Kiểm tra hộp và giá máy lọc để đảm bảo máy lọc thích hợp vừa vặn và giảm thiểu lượng không khí tràn ra xung quanh thay vì đi qua máy lọc.
  • Đảm bảo quạt thông gió trong phòng vệ sinh hoạt động hết công suất khi tòa nhà được đưa vào sử dụng.
  • Kiểm tra và bảo trì hệ thống hút mùi trong các không gian như nhà bếp, không gian nấu ăn, v.v. Hãy vận hành những hệ thống này bất cứ khi nào có người ở trong không gian đó. Việc vận hành ngay cả khi không gian cụ thể không có người sử dụng sẽ làm tăng thông gió chung bên trong tòa nhà có người sử dụng.
  • Sử dụng các hệ thống quạt/lọc hạt trong không khí có hiệu suất cao (HEPA) loại lưu động để tăng cường khả năng làm sạch không khí (đặc biệt là ở những khu vực có nguy cơ cao như phòng y tá hoặc các khu vực thường xuyên có người ở và những người đó có khả năng đang mắc COVID-19 cao và/hoặc nguy cơ nhiễm COVID-19) cao hơn. Xem Câu hỏi thường gặp dưới đây về thiết bị lọc HEPA và máy lọc không khí HEPA lưu động. (Lưu ý: Cũng có các loại máy lọc không khí lưu động sử dụng các bộ lọc có hiệu suất thấp hơn là HEPA và có thể góp phần làm sạch không khí trong phòng. Tuy nhiên, chúng nên được dán nhãn rõ ràng là thiết bị không có HEPA.
  • Tạo ra dòng khí lưu chuyển từ nơi sạch đến nơi kém sạch hơn bằng cách đánh giá và thay đổi vị trí khi cần, cửa thông hơi cấp khí, lưới thoát khí và/hoặc thiết lập van điều tiết không khí. Xem Câu hỏi thường gặp bên dưới về Luồng khí có định hướng. Khuyến nghị này dễ thực hiện hơn khi điểm cấp và điểm xả nằm trong cùng một hệ thống lưới trần.
  • Dùng chiếu xạ diệt khuẩn bằng tia cực tím (UVGI) làm biện pháp bổ sung để bất hoạt SARS-CoV-2 khi các lựa chọn để tăng cường thông gió và lọc khí trong phòng bị hạn chế. Hệ thống UVGI vùng trên căn phòng pdf icon[6.1 MB, 87 trang] có thể dùng để cung cấp khả năng lọc khí trong các không gian có người dùng và các hệ thống UVGI qua đường ống có thể giúp nâng cao khả năng lọc khí trong các hệ thống thông gió trung tâm.
  • Trong môi trường không có người ở, hãy vận hành hệ thống HVAC với việc tăng tối đa luồng không khí bên ngoài 2 giờ trước và sau khi tòa nhà có người ở.

Những biện pháp can thiệp thông gió trên đây đi kèm với một loạt các chi phí ban đầu và chi phí vận hành, cùng với các yếu tố đánh giá rủi ro - như tỷ lệ mắc trong cộng đồng, các kỳ vọng về mức độ tuân thủ đeo khẩu trang cũng như mật độ hiện diện trong phòng - có thể ảnh hưởng đến cách lựa chọn công cụ. Sau đây là ví dụ về cách ước tính chi phí cho biện pháp can thiệp thông gió:

  • Không mất chi phí: mở cửa sổ; kiểm tra và bảo trì hệ thống thông gió xả khí riêng; vô hiệu hóa điều khiển DCV; thay đổi vị trí van điều tiết không khí từ ngoài trời
  • Thấp hơn $100: dùng quạt để tăng hiệu quả của việc mở cửa thông khí; hoặc đặt lại bộ khuếch tán nguồn cấp/thông gió để tạo ra các luồng khí có định hướng
  • (xấp xỉ) 500 USD: thêm hệ thống lọc/quạt HEPA di động
  • $1500 đến $2500 (xấp xỉ): bổ sung UGVI vùng trên

Câu hỏi thường gặp về thông gió

Nguy cơ làm lây lan SARS-CoV-2, loại vi-rút gây bệnh COVID-19, thông qua hệ thống thông gió vẫn còn chưa rõ ràng tại thời điểm này. RNA của vi-rút được phát hiện ở lưới không khí hoàn lưu, trong ống dẫn khí hoàn lưu, ở bộ lọc của hệ thống sưởi, điều hòa, thông gió (HVAC), nhưng việc chỉ phát hiện ra RNA vi-rút không có nghĩa là vi-rút có khả năng lây truyền dịch bệnh. Theo nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu, việc sử dụng phương pháp lấy mẫu không khí mới đã cho phép họ tìm thấy các hạt vi-rút sống trong phòng bệnh tại bệnh viện của bệnh nhân COVID-19external icon dù phòng được thông gió tốt, có hệ thống lọc và khử trùng bằng tia cực tím (UV) (ở khoảng cách đến 16 feet so với bệnh nhân). Tuy nhiên, việc tập trung vào các vi-rút có thể sống đã được phát hiện được coi là chưa đủ để gây ra lây truyền dịch bệnh. Có thể hệ thống HVAC sẽ được cân nhắc áp dụng một số thay đổi liên quan đến những phát hiện này, tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để kết luận một cách chắc chắn. Dù không khí lưu thông trong một không gian cụ thể có thể giúp làm lây lan bệnh từ người này sang người khác trong không gian đó, song đến nay vẫn chưa có bằng chứng khẳng định nào cho thấy vi-rút sống đã được truyền qua hệ thống HVAC để dẫn đến tình trạng lây truyền bệnh dịch cho những người ở không gian khác sử dụng chung hệ thống.

Các cơ sở y tế áp dụng những yêu cầu về thông gió để giúp ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh lây nhiễm liên quan đến môi trường y tế. Để biết thêm thông tin, xem Hướng dẫn kiểm soát lây nhiễm trong môi trường tại các cơ sở y tế của CDC.

Các chủ tòa nhà và ban quản lý tòa nhà không thuộc lĩnh vực y tế (VD: công sở và trường học) tối thiểu phải bảo dưỡng hệ thống thông gió tòa nhà theo luật xây dựng và các hướng dẫn hiện hành của tiểu bang, địa phương. Việc đảm bảo mức độ thông gió và không khí ngoài trời thích hợp là một bước khả thi để đảm bảo chất lượng không khí trong nhà tốt.

Khi những giọt nước lớn (từ 100 micrometer [µm] trở lên) sẽ lắng xuống các bề mặt xung quanh trong vài giây, những hạt nhỏ hơn có thể ngưng đọng trong không khí lâu hơn. Có thể mất vài phút để các hạt có kích thước 10 µm lắng xuống, trong lúc các hạt có kích thước từ 5 µm trở xuống có thể không lắng xuống trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày. Thông gió pha loãng và lọc các hạt thường được sử dụng để loại bỏ những hạt nhỏ hơn này khỏi không khí. Những hạt lớn hơn cũng có thể được loại bỏ bằng cách sử dụng những chiến thuật này, nhưng vì các hạt này thường lắng xuống nhanh nên có khả năng không bị hút đi bởi hệ thống lọc.

Thời gian cần thiết để loại bỏ các hạt lơ lửng trong không khí ở một không gian có thể được ước tính theo Bảng B.1 in trong Hướng Dẫn Kiểm Soát Lây Nhiễm trong Môi Trường tại Cơ Sở Y Tế (2003) của CDC. Số liệu ước tính đặt giả thiết là nguồn phát ra hạt truyền nhiễm không còn hiện diện trong không gian đó nữa.  Con số ước tính dựa trên tỷ lệ không khí không có hạt được đưa vào phòng và hiệu suất loại bỏ mong muốn (99% hoặc 99,9%). Không khí không có hạt, được đo lường bằng mức độ thay đổi trong không khí theo giờ (ACH), có thể là nguồn cấp khí không bị ô nhiễm hoặc khí sạch được đẩy ra từ một hệ thống quạt/lọc Hạt Nhỏ trong Không Khí với Hiệu Suất Cao (HEPA) [Xem nội dung thảo luận về lọc HEPA dưới đây].

Dù có một số bệnh truyền nhiễm trong không khí (như bệnh sởi) nơi CDC cung cấp hướng dẫn cụ thể đối với 99,9% thời gian chờ diệt khuẩn, khuyến nghị chung trong Hướng dẫn kiểm soát lây nhiễm trong môi trường tại các cơ sở y tế của CDC đang đợi để có một đợt giảm 99% các hạt trong không khí được tạo ra trước khi quay trở lại căn phòng.

Khi không có hướng dẫn nêu cụ thể thời gian chờ dài hơn đối với SARS-CoV-2, thời gian chờ gắn liền với mức độ sạch 99% là thích hợp cho không gian chăm sóc sức khỏe và nơi khác. Bất kể cột 99% hay 99,9% trong Bảng B.1 được sử dụng, giá trị trong bảng thường thấp hơn thời gian làm sạch pha loãng trong thực tế như đã được ghi chú trong phần chú thích, bao gồm câu sau: "Những khoảng thời gian được nêu giả định độ hòa trộn hoàn hảo của không khí nội trong không gian đó (nghĩa là yếu tố hòa trộn = 1). Tuy nhiên, mức độ hòa trộn hoàn hảo thường không xảy ra. Thời gian loại bỏ trong các phòng hoặc khu vực có điều kiện hòa trộn không khí không hoàn hảo hoặc không khí ứ trệ." Để sử dụng Bảng B.1 đúng cách nhằm thiết lập thời gian làm sạch ở bất cứ không gian nào, phải nhân thời gian trong bảng với hệ số hòa trộn (k), dao động từ 1 đến 10. Hệ số này đại diện cho mức độ hòa trộn và làm loãng mật độ hạt có trong không khi bên trong phòng bằng hệ thống thông gió.

Theo quy tắc may rủi, những căn phòng có lưu lượng dòng khí cao hơn (6 ACH trở lên) và cách bố trí lưới cấp và thoát khí tốt (phòng cách ly bệnh truyền nhiễm theo đường không khí của bệnh viện) được xem là có độ hòa trộn "tốt", do đó thường sử dụng hệ số hòa trộn k = 3 cho các không gian này. Trong trường hợp đó, thời gian được chỉ ra ở Bảng B.1 phải được nhân với 3 để xác định thời gian làm sạch thực tế trước khi vào lại. Những không gian không được thông khí hoặc thông khí kém có giá trị k điển hình dao động từ 8 đến 10. ACH tăng lên thường dẫn đến giảm hệ số k, dù k cũng có thể giảm bằng cách sử dụng quạt trong không gian đó, vốn không có ảnh hưởng gì đối với ACH. Cuối cùng, thời gian chờ có thể giảm xuống bằng cách tăng ACH, giảm k hoặc kết hợp cả hai.

Ví dụ 1.  Biết rằng: Một căn phòng có kích thước 12 feet x 10 feet với trần cao 10 feet sử dụng một hệ thống thông gió với ngoài trời 100% giúp đưa 65 feet khối/phút (cfm) không khí vào (Qs = 65 cfm) và đẩy ra 80 cfm khi từ trong phòng (Qe = 80 cfm). Phòng có mức độ hòa trộn không khí trung bình, nên ta gán k = 5.

Hỏi: Cần bao nhiêu thời gian để giảm nồng độ trong không khí 99%?

Lời giải: Vì Qe lớn hơn Qs 15 cfm, hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí đưa 15 cfm không khí từ các khu vực liền kề (VD: phòng áp suất âm) vào trong phòng. Trong ví dụ này, giả sử 15 cfm khí đưa vào không có các hạt mang bệnh truyền nhiễm trong không khí. Lưu lượng dòng khí sạch tính theo đơn vị thể tích (Q) lớn hơn giá trị trong khoảng từ Qs đến Qe, do đó Q = 80 cfm. Tính mức thay đổi không khí mỗi giờ:

ACH = [Q x 60] / (thể tích phòng) = (80 cfm x 60) / (12' x 10' x 10') = 4800/1200 = 4.0 ACH

Theo Bảng B.1 thời gian chờ hòa trộn hoàn hảo căn cứ trên 4 ACH và mức giảm 99% lượng hạt trong không khí là 69 phút.

Lấy hệ số hòa trộn bằng 5, thời gian chờ ước tính để giảm 99% lượng chất ô nhiễm trong không khí trong phòng là 5 x 69 = 345 phút, hoặc 5 giờ 45 phút.

Ghi chú: Việc xác định giá trị thực của nhân tố trộn là rất khó và cần có thiết bị đặc biệt để đo lưu lượng khí và tiến hành thử nghiệm phân rã khí đánh dấu. Vì vậy, các ước tính k thận trọng thường được sử dụng (như mô tả trên đây) Ngoài ra, việc bổ sung thiết bị làm sạch không khí (ví dụ: bộ lọc HEPA di động) trong cùng một phòng sẽ giảm thời gian chờ đợi. Tốc độ lưu thông từ thiết bị làm sạch không khí có thể được thêm vào Q đã xác định trên, điều này sẽ làm tăng tổng ACH trong phòng. Chuyển động không khí do thiết bị làm sạch không khí tạo ra cũng có thể làm giảm giá trị của k. ACH tăng và k giảm đồng thời có thể giúp giảm đáng kể thời gian chờ đợi. Xem Ví dụ 2 để biết thêm thông tin, bao gồm ví dụ về cách tính toán.

Các bộ lọc sử dụng trong hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) thường được kiểm tra theo quy trình nêu trong Tiêu chuẩn ANSI/ASHRAE 52.2-2017- Phương Pháp Kiểm Tra Thiết Bị Làm Sạch Không Khí Thông Gió Chung Nhằm Loại Bỏ Hiệu Quả Theo Kích Thước Hạt. Tiêu chuẩn này được lập ra bởi ASHRAE, là một tổ chức thế giới tập trung vào các hệ thống xây dựng, chất lượng không khí trong nhà và tính bền vững trong môi trường xây dựng, đã cung cấp bản tiêu chuẩn này để mọi người có thể xem trực tuyến miễn phíexternal icon trong khi đại dịch đang diễn ra. Dựa trên hiệu quả lọc xác định bởi quy trình thử nghiệm, các bộ lọc được chỉ định với một Giá Trị Báo Cáo Hiệu Quả Tối Thiểu (MERV). MERV cung cấp thước đo "hiệu quả lọc" trong phạm vi kích thước hạt được quy định trong quy trình thử nghiệm. Giá trị MERV nằm trong khoảng từ 1 đến 16 và giá trị MERV càng cao thì bộ lọc càng có hiệu quả cao hơn.

Nghiên cứu cho thấy kích cỡ hạt SARS-CoV-2 là khoảng 0,1 micro-mét (µm). Tuy nhiên, nhìn chung vi-rút không chỉ tự di chuyển trong không khí. Những vi-rút này sản sinh từ cơ thể con người, do đó vi-rút chứa trong các giọt bắn từ đường hô hấp và nhân giọt bắn (giọt bắn từ đường hô hấp đã khô) có kích thước lớn hơn một vi-rút độc lập. Hầu hết các giọt và hạt bắn từ đường hô hấp bay ra khi nói, hát, thở và ho có kích thước nhỏ hơn 5 µm. CDC khuyến nghị sử dụng các bộ lọc thông gió hiệu quả cao nhất có thể mà không ảnh hưởng xấu đến hiệu suất tổng thể của hệ thống HVAC. ASHRAE có hướng dẫn tương tự; tuy nhiên, họ đề xuất mục tiêu hiệu quả lọc tối thiểu là MERV 13, miễn là không có tác động tiêu cực đáng kể đến hiệu suất hệ thống HVAC và sự thoải mái của mọi người. Bộ lọc MERV 13 có hiệu suất​​​​​​​ giữ các hạt với phạm vi kích thước từ 0,3 µm đến 1,0 ít nhất là 50% và phạm vi kích thước từ 1 µm đến 3 µm là 85%. Nói chung, những hạt này có khả năng tồn tại trong không khí trong nhiều giờ và chủ yếu sẽ xâm nhập sâu vào phổi. Bộ lọc MERV 14 có thể giữ lại các hạt với hiệu quả tối thiểu lần lượt là 75% và 90%. Hiệu quả của các bộ lọc MERV 15 và MERV 16 thậm chí còn cao hơn. Do đó, các bộ lọc được khuyến nghị có hiệu quả hơn đáng kể trong việc giữ lại các hạt so với bộ lọc MERV 8 điển hình, chỉ có hiệu quả khoảng 20% đối với các hạt có kích thước khoảng 1 µm đến 3 µm và không có hiệu quả giữ lại các hạt có kích thước nhỏ hơn 0,3 µm đến 1,0 µm.

Tăng hiệu quả lọc có thể làm tăng khả năng giảm áp suất trên các bộ lọc. Điều này có thể dẫn đến tăng mức năng lượng quạt cần sử dụng, giảm tốc độ luồng không khí và/hoặc các vấn đề về kiểm soát nhiệt độ trong nhà và mức độ ẩm tương đối. Những thành tựu phát triển về khoa học trong thiết kế và sản xuất bộ lọc đã làm giảm bớt việc gia tăng tình trạng sụt giảm áp suất và tác động của nó đối với hoạt động của hệ thống HVAC, nhưng không phải bộ lọc nào cũng đã được áp dụng công nghệ mới hơn này. Trước khi nâng cấp hệ thống lọc, các bộ lọc cụ thể đang được xem xét nên được điều tra về định mức sụt giảm áp suất ở (các) mức lưu lượng dự định sử dụng và ảnh hưởng tiềm tàng của hiện tượng sụt giảm áp suất đó, được đánh giá tương ứng với năng lực của hệ thống HVAC hiện hữu.

Bộ lọc không khí dạng hạt (HEPA) hiệu quả cao thậm chí còn hiệu quả hơn trong việc lọc các hạt lây nhiễm do con người sinh ra so với bộ lọc MERV 16. Tuy nhiên, ngoài một số ứng dụng nhất định, bộ lọc HEPA hiếm khi được sử dụng trong hệ thống HVAC trung tâm. [Xem câu hỏi về Bộ lọc HEPA di động để tìm hiểu thêm và ứng dụng của bộ lọc trong việc làm sạch không khí để bảo vệ sức khỏe].

Luồng khí có định hướng là một khái niệm thông gió bảo vệ trong đó luồng không khí chuyển động theo hướng từ sạch đến kém sạch. Khái niệm thông gió này được áp dụng cho các khu vực mà môi trường "sạch" yêu cầu mức độ bảo vệ cao hơn và/hoặc nơi môi trường "kém sạch" có nguy cơ chứa các chất gây ô nhiễm trong không khí cao hơn (các hoạt động hoặc nơi cư trú của các cá nhân có nguy cơ bị lây nhiễm). Những ví dụ về không gian "sạch" có thể bao gồm các trạm phân loại của cơ sở chăm sóc sức khỏe hoặc các phòng/hành lang tiếp giáp với các hoạt động có nguy cơ cao. Những ví dụ về không gian "kém sạch" có thể bao gồm không gian chứa những người đã biết/nghi ngờ có nhiễm hoặc không gian nơi một hoạt động đã biết làm tăng khả năng tạo ra các hạt lây nhiễm trong không khí.

Việc tạo ra luồng không khí định hướng có thể được thực hiện trong một không gian cụ thể hoặc giữa hai không gian liền kề. Việc này có thể được thực hiện một cách thụ động, thông qua việc đặt các lưới của hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) cấp và đẩy một cách có chủ đích, hoặc bằng cách chủ động tạo ra các vi sai áp suất giữa các không gian liền kề thông qua việc định quy cách cho lưu lượng khí cấp và đẩy bù trừ. Việc tạo ra luồng không khí định hướng cũng có thể được thực hiện một cách chủ động, thông qua việc sử dụng quạt hút gió qua cửa sổ mở, vị trí chiến lược của hệ thống ống dẫn gắn với bộ lọc HEPA di động hoặc hệ thống hút khí chuyên dụng (lắp đặt hoặc di động) tạo ra luồng gió mong muốn bằng cách xả khí ra cửa sổ, cửa ra vào hoặc thông qua các ống dẫn tạm thời. Trong các cài đặt cụ thể, cũng có thể sử dụng các biện pháp can thiệp thông gió kiểm soát cục bộ chuyên biệt để thiết lập hướng luồng không khí mong muốn (xem NIOSH Thông gió Đầu giường).

Các luồng không khí định hướng phải được đánh giá cẩn thận. Kiểm tra hiệu quả của luồng không khí định hướng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng kỹ thuật đánh dấu trực quan sử dụng "ống khói" hoặc "máy tạo sương mù" cầm tay. Có thể sử dụng các công cụ khác, màn hình điện tử hoặc thiết bị hỗ trợ trực quan để theo dõi chênh lệch áp suất khi luồng không khí định hướng được thiết lập giữa hai không gian liền kề. Để giảm khả năng hướng luồng không khí lây nhiễm sang những người ở trong không gian không lây nhiễm, điều quan trọng là phải thiết lập các xác định không gian "sạch" và "kém sạch" bằng cách sử dụng các lưu ý đánh giá rủi ro kiểm soát lây nhiễm.

Nghiên cứu cho thấy kích cỡ hạt SARS-CoV-2 là khoảng 0,1 micro-mét (µm). Tuy nhiên, nhìn chung vi-rút không chỉ tự di chuyển trong không khí. Các hạt vi-rút này do con người tạo ra, vì vậy vi-rút bị mắc kẹt trong các giọt bắn từ đường hô hấp và các hạt nhân nhỏ (giọt bắn từ đường hô hấp đã khô) là lớn hơn. Hầu hết các giọt và hạt bắn từ đường hô hấp bay ra khi nói, hát, thở và ho có kích thước nhỏ hơn 5 µm. Theo định nghĩa, bộ lọc Không khí hạt hiệu quả cao (HEPA) có kích thước tối thiểu là 99,97% hiệu quả trong việc thu giữ các hạt có kích thước 0,3 µm. Hạt 0,3 µm này gần đúng với kích thước hạt xuyên qua (MPPS) qua bộ lọc. Bộ lọc HEPA thậm chí còn hiệu quả hơn trong việc bắt các hạt lớn hơn nhỏ hơn MPPS. Do đó, các bộ lọc HEPA đạt hiệu suất không dưới 99,97% trong việc giữ lại các hạt chứa vi-rút SARS-CoV-2 từ cơ thể con người.

Thiết bị lọc HEPA lưu động sử dụng kết hợp một bộ lọc HEPA và một hệ thống quạt dùng điện, là một phương án được ưu tiên để làm sạch không khí phụ trợ, đặc biệt là ở những môi trường có nguy cơ cao như phòng khám y tế, điểm xét nghiệm y tế và tiêm chủng, phòng tập luyện hoặc khu vực chờ của người dân. Các cài đặt khác có thể được hưởng lợi từ việc lọc HEPA di động có thể được xác định bằng cách sử dụng các thông số đánh giá rủi ro điển hình, chẳng hạn như tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng, kỳ vọng tuân thủ việc đeo khẩu trang và mật độ người ở trong phòng. Dù các hệ thống này không đưa không khí loãng ở ngoài trời vào bên trong, song chúng lại có hiệu quả làm sạch không khí bên trong các không gian, nhằm giảm mật độ hạt lơ lửng trong không khí, trong đó có hạt vi-rút SARS-CoV-2. Do đó, những thiết bị này cho hiệu quả lưu thông không khí tốt mà không cần điều hòa không khí ngoài trời.

Khi lựa chọn một thiết bị HEPA lưu động, hãy chọn một hệ thống có kích cỡ thích hợp với khu vực dự định lắp đặt. Cách xác định này dựa trên lưu lượng khí đi qua thiết bị, thường được báo cáo theo đơn vị feet khối/phút (cfm). Nhiều bộ lọc HEPA di động được gán Tỉ lệ cấp không khí sạch (CADR) (Xem Hướng dẫn của EPA đối với bộ lọc không khí tại nhàexternal icon), được ghi trên nhãn trong hướng dẫn cho người vận hành, trên hộp gửi hàng và/hoặc trên chính bộ lọc. CADR là một tiêu chuẩn đã được xác lập, do Hiệp Hội Các Nhà Sản Xuất Thiết Bị Gia Dụng (AHAM) định ra. Những nhà sản xuất máy lọc không khí lưu động tham gia hiệp hội này đã được một phòng thí nghiệm độc lập chứng nhận, do đó người dùng cuối có thể an tâm là thiết bị có hiệu năng đúng như tuyên bố của nhà sản xuất. CADR thường được báo cáo theo đơn vị cfm với các sản phẩm được bán ở Hoa Kỳ. Các đoạn dưới đây mô tả cách lựa chọn một máy lọc không khí thích hợp dựa trên kích thước phòng nơi thiết bị sẽ được sử dụng. Quy trình sau đây nên được tuân thủ bất cứ khi nào có thể. Nếu không có loại máy lọc không khí có số CADR thích hợp hoặc cao hơn, hãy chọn một thiết bị có mức CADR thấp hơn. Thiết bị đó vẫn sẽ cho hiệu quả làm sạch không khí tăng dần, hơn là không sử dụng thiết bị nào để lọc không khí.

Trong cùng một căn phòng, CADR càng lớn thì tốc độ làm sạch không khí trong phòng càng nhanh. Trên nhãn AHAM có ba số CADR, mỗi số chỉ khói, bụi và phấn hoa. Các hạt khói là nhỏ nhất, nên số CADR đó thích hợp nhất cho các hạt vi-rút có liên quan đến COVID-19. Nhãn này cũng thể hiện kích thước phòng lớn nhất (theo đơn vị feet vuông, ft2) tương ứng với thiết bị, với giả định độ cao trần tiêu chuẩn là 8 feet. Nếu trần nhà cao hơn, hãy nhân kích cỡ phòng (ft2) với tỷ lệ chiều cao trần thực tế (ft) và chia cho 8. Ví dụ, căn phòng 300 ft2 có trần cao 11 foot sẽ cần có máy lọc không khí lưu động gắn nhãn dành cho phòng có kích thước tối thiểu là 415 ft2 (300 × [11/8] = 415).

Chương trình CADR được thiết kế để xếp hạng loại máy lọc không khí cho phòng nhỏ hơn, thường được sử dụng cho nhà ở và văn phòng. Với những máy lọc không khí lớn hơn và những máy nhỏ hơn từ các nhà sản xuất không muốn tham gia chương trình CADR của AHAM, hãy chọn một thiết bị HEPA dựa trên kích thước phòng đề xuất (ft2) hoặc lưu lượng không khí được báo cáo (cfm) do nhà sản xuất cung cấp. Khách hàng có thể cân nhắc việc những giá trị này thường thể hiện điều kiện lý tưởng, vốn thường ước tính hiệu suất cao hơn thực tế.

Với những máy lọc không khí có cho biết kích cỡ phòng đề xuất, thì cách điều chỉnh cho phòng có trần cao hơn 8 feet cũng giống như được trình bày ở trên. Đối với các thiết bị chỉ có thông tin về lưu lượng không khí, hãy thực hiện theo "2/3 ruleexternal icon" để ước lượng kích thước phòng đề xuất. Để áp dụng quy tắc này cho phòng có chiều cao trần đến 8 feet, hãy chọn loại máy lọc không khí có giá trị lưu lượng không khí (cfm) bằng ít nhất là 2/3 diện tích sàn (ft2). Ví dụ, phòng có kích thước tiêu chuẩn 300 ft2 cần loại máy lọc không khí có lưu lượng không khí tối thiểu 200 cfm (300 × [2/3] = 200). Nếu trần cao hơn, hãy thực hiện cùng phép tính, sau đó nhân kết quả với tỷ lệ độ cao trần thực tế (ft) chia cho 8. Ví dụ, phòng 300 ft2 được mô tả ở trên, nhưng với trần cao 11 feet, phải cần loại máy lọc không khí cho lưu lượng khí tối thiểu bằng 275 cfm (200 × [11/8] = 275).

Dù các hệ thống quạt HEPA thường là loại thiết bị độc lập, nhiều thiết bị cỡ lớn hơn cho phép gắn đường ống thông gió linh hoạt vào đường hút khí vào và/hoặc đẩy khí ra (lưu ý, các thiết bị có ống dẫn lớn hơn không rơi vào nhóm được mô tả là "thiết bị làm sạch không khí phòng" và có thể không có xếp hạng CADR). Nếu sử dụng đường ống thông gió và đặt hệ thống lọc HEPA một cách có phương pháp trong không gian sẽ có thể giúp đem lại dòng khí từ sạch đến gần sạch ở nơi cần thiết. Hệ thống lọc HEPA cũng có thể được sử dụng để thực hiện can thiệp giữ không khí trực tiếp ngay từ nguồn cho các tình huống điều trị và/hoặc xét nghiệm cho bệnh nhân (Xem nội dung thảo luận của CDC/NIOSH về Vách thông khí đầu giường). Tùy thuộc vào kích thước của các loại quạt/bộ lọc HEPA và cách thiết lập tại cơ sở nơi các thiết bị được sử dụng, nhiều thiết bị HEPA di động nhỏ được triển khai tới các khu vực có nguy cơ cao có thể hữu ích hơn một thiết bị HEPA lớn phục vụ một không gian kết hợp.

Ví dụ 2. Biết: Phòng được mô tả trong Ví dụ 1 hiện dược bổ sung thêm một thiết bị lọc không khí HEPA lưu động có CADR đối với khói là 120 cfm (Qhepa = 120 cfm). Chuyển động bổ sung của không khí bên trong phòng giúp cải thiện mức độ hòa trộn nói chung, nên gán giá trị k = 3.

Hỏi: Chúng ta tiết kiệm được bao nhiêu thời gian để đạt đúng mức giảm chất gây ô nhiễm trong không khí 99% khi bổ sung thiết bị lọc HEPA lưu động cho căn phòng?

Lời giải: Việc bổ sung thiết bị lọc HEPA giúp cung cấp thêm không khí sạch cho phòng. Ở đây, lưu lượng dòng khí sạch tính theo thể tích (Q) là: Q = Qe + Qhepa = 80 cfm + 120 cfm = 200 cfm.

ACH = [Q x 60] / (thể tích phòng) = (200 cfm x 60) / (12' x 10' x 10') = 12,000/1,200 = 10 ACH.

Theo Bảng B.1 thời gian chờ hòa trộn hoàn hảo căn cứ trên 10 ACH và mức giảm 99% lượng hạt trong không khí là 28 phút.

Lấy hệ số hòa trộn bằng 3, thời gian chờ ước tính để giảm 99% lượng chất ô nhiễm trong không khí trong phòng là 3 x 28 = 84 phút. Do đó, giá trị ACH tăng lên và giá trị k thấp hơn được kết hợp với bộ lọc HEPA di động đã giảm thời gian chờ từ 5 giờ và 45 phút ban đầu xuống chỉ còn 1 giờ và 24 phút, tiết kiệm được tổng cộng 4 giờ và 21 phút trước khi có thể sử dụng lại căn phòng một cách an toàn.

Việc bổ sung thiết bị HEPA di động đã làm tăng tốc độ thông gió hiệu quả và cải thiện sự hòa khí trong phòng. Điều này dẫn đến giảm 75% thời gian để loại bỏ các hạt có khả năng gây nhiễm trong không khí trong phòng.

Có. Phương pháp chiếu xạ diệt khuẩn bằng tia cực tím (UVGI), còn được gọi là cực tím diệt khuẩn (GUV), là một công cụ khử trùng được sử dụng trong nhiều môi trường khác nhau, như môi trường nhà ở, thương mại, trường học và chăm sóc sức khỏe. Công nghệ sử dụng năng lượng tia cực tím (UV) để bất hoạt (tiêu diệt) vi sinh vật, bao gồm cả vi-rút, khi được thiết kế và lắp đặt đúng cách.

Chúng ta vẫn còn nhiều điều cần tìm hiểu về SARS-CoV-2 và mức độ hạt vi-rút và sự lây lan trong không khí. Tuy nhiên, UVGI có thể vô hiệu hóa vi-rút trong không khí và trên các bề mặt.* Thiết kế và kích thước các hệ thống khử trùng bằng UVGI hiệu quả yêu cầu phải có kiến thức và kinh nghiệm cụ thể.

Hãy tham khảo ý kiến của nhà sản xuất UVGI có uy tín hoặc nhà thiết kế hệ thống UVGI có kinh nghiệm trước khi lắp đặt hệ thống UVGI. Những chuyên gia này có thể hỗ trợ bằng cách thực hiện các tính toán cần thiết, cách chọn dụng cụ, lắp đặt hệ thống đúng cách và kiểm tra khả năng hoạt động phù hợp với nơi lắp đặt.

*Lưu ý: Khuyến nghị của CDC về khử trùng bề mặt chính trong các môi trường có người ở là tuân theo Hướng dẫn của CDC/EPA về khử trùng bề mặt.

UVGI vùng trên trong phòng
UVGI vùng trên trong phòng (hoặc không gian phía trên) sử dụng các dụng cụ gắn lắp UVGI được thiết kế đặc biệt gắn trên tường hoặc trần nhà để tạo ra vùng khử trùng của năng lượng tia cực tím (UV) tập trung vào phần trên trong phòng và cách xa con người. Các dụng cụ này khử trùng không khí khi không khí lưu thông từ hệ thống thông gió cơ học, quạt trần hoặc chuyển động của không khí tự nhiên. Ưu điểm của UVGI vùng trên là nó khử trùng không khí ở gần và phía trên những người đang ở trong phòng. Kể từ những năm 1980, các hệ thống UVGI đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát bệnh lao phổi (TB). Hướng dẫn Kiểm soát bệnh lao về mặt môi trường: Hướng dẫn chiếu xạ diệt khuẩn bằng cực tím vùng trên căn bản cho cơ sở chăm sóc sức khỏe của CDC cung cấp thông tin về thiết kế hệ thống UVGI thích hợp, thao tác an toàn liên quan và bảo dưỡng. Dựa trên dữ liệu từ các vi-rút corona khác ở người, một hệ thống UVGI được thiết kế để bảo vệ trước sự lây lan của TB sẽ có hiệu quả vô hiệu quá SARS-CoV-2 và nhờ đó mà ngăn chặn sự lây lan. Các hệ thống UVGI thường yêu cầu có một số thiết bị gá lắp UV để có hiệu quả. Ví dụ, phòng chờ hình chữ nhật có 10-30 người hiện diện sẽ cần 2-3 dụng cụ gắn lắp UVGI cho vùng không khí phía trên. Trong khi lắp đặt hệ thống, phải cẩn trọng khi điều khiển mức năng lượng UV chiếu thẳng hoặc phản chiếu vào không gian có người ở bên dưới xuống dưới các mức được xem là an toàn. Các nhà sản xuất UVGI uy tín hoặc chuyên gia thiết kế UVGI kinh nghiệm sẽ thực hiện các phép đo lường cần thiết và mọi loại điều chỉnh bắt buộc để tránh cho mọi người trong không gian phải tiếp xúc với tia UV có hại.

Ứng dụng tiềm năng: Có thể sử dụng trong mọi môi trường trong nhà; hữu ích nhất trong những không gian có nhiều người đang hoặc có thể mắc bệnh.

UVGI trong đường ống
Hệ thống UVGI trong đường ống được lắp đặt trong hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC). Các hệ thống này được thiết kế để phục vụ một trong hai mục đích:

1) Thiết bị UVGI xử lý ống xoắn giữ cho ống xoắn HVAC, khay xả nước và bề mặt ẩm ướt không có sự phát triển của vi khuẩn. Các thiết bị này tạo ra mức năng lượng UV tương đối thấp. Năng lượng này được cung cấp liên tục 24 giờ một ngày, đó là lý do tại sao chúng hoạt động hiệu quả. Thiết bị UVGI xử lý ống xoắn không được thiết kế để khử trùng không khí và không nên được lắp đặt cho mục đích khử trùng không khí.

Ứng dụng tiềm năng: Có thể sử dụng để giảm thiểu hoạt động bảo trì HVAC và cải thiện hiệu quả hoạt động trong các hệ thống HVAC thương mại, lớn hoặc hệ thống HVAC dân dụng; không được khuyến nghị để vô hiệu hóa các mầm bệnh trong không khí.

2) Hệ thống UVGI khử trùng không khí có thể đạt hiệu quả ứng dụng năng lượng UV để vô hiệu hóa các mầm bệnh trong không khí khi chúng di chuyển trong ống dẫn HVAC. Hệ thống UVGI khử trùng không khí HVAC thường yêu cầu đèn UV mạnh hơn hoặc số lượng đèn nhiều hơn, hoặc cả hai, để cung cấp UVGI cần thiết để bất hoạt các mầm bệnh trong một khoảng thời gian ngắn. Hệ thống khử trùng không khí thường được đặt ở phía dưới của ống xoắn HVAC. Vị trí này giữ cho ống xoắn, khay xả nước và các bề mặt ẩm ướt không có sự phát triển của vi khuẩn và cũng khử trùng luồng không khí khi di chuyển.

Ứng dụng tiềm năng: Có thể được sử dụng bên trong bất kỳ hệ thống HVAC nào để khử trùng các mầm bệnh truyền nhiễm trong không khí.

UV xa (hoặc UVC xa)
UV xa là một trong nhiều công nghệ mới nổi đã trở nên phổ biến trong đại dịch COVID-19. Trong khi các dụng cụ gắn lắp UVGI tiêu chuẩn phát ra năng lượng UV ở bước sóng khoảng 254 nanomet (nm), các thiết bị UV xa sử dụng các loại đèn khác nhau để phát ra năng lượng UV ở bước sóng khoảng 222 nm. Ngoài bước sóng, sự khác biệt lớn giữa hai công nghệ là các hệ thống UVGI tiêu chuẩn được thiết kế đặc biệt để tránh cho con người tiếp xúc với năng lượng tia cực tím, trong khi nhiều thiết bị tia cực tím xa được bán trên thị trường là an toàn để con người và môi trường trực tiếp tiếp xúc với năng lượng tia cực tím. Một đánh giá của các tài liệu đã được đánh giá ngang hàng chỉ ra rằng các bước sóng tia cực tím xa có thể bất hoạt hiệu quả các vi sinh vật, bao gồm cả vi-rút Corona ở người, khi áp dụng liều lượng tia cực tím thích hợp. Vẫn còn các câu hỏi về cơ chế tiêu diệt vi sinh vật và sự an toàn tổng thể. Tia UV xa có thể tỏ ra hiệu quả trong việc khử trùng không khí và bề mặt mà không cần một số biện pháp phòng ngừa an toàn cần thiết cho UVGI tiêu chuẩn. Thiết bị UV xa được xem là công nghệ mới và đang phát triển. Người tiêu dùng đang xem xét một công nghệ mới nổi như UV xa nên tham khảo Câu hỏi thường gặp về các công nghệ mới dưới đây.

Ứng dụng tiềm năng: Chưa được xác định.

CDC không đưa ra khuyến nghị ủng hộ hay phản đối bất cứ nhà sản xuất hay sản phẩm nào. Nhiều loại công nghệ đang được tiếp thị dày đặc là có tác dụng làm sạch không khí trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang diễn ra. Phổ biến trong số này là khử trùng bằng ion hóa, oxy già khô và hóa chất dạng sương. Một số sản phẩm trên thị trường còn ứng dụng kết hợp các công nghệ này. Các sản phẩm này tạo ra ion, các gốc tự do oxy hóa (ROS, được tiếp thị dưới nhiều cái tên) hoặc hóa chất đưa vào không khí như một phần của quy trình làm sạch không khí. Người ở trong không gian được xử lý bằng những sản phẩm này cũng phải tiếp xúc với các ion, ROS hay hóa chất này.

Dù các phiên bản của những công nghệ này đã có suốt nhiều thập kỷ, song khi so sánh với các phương pháp làm sạch hoặc khử trùng không khí khác, chúng có thành tích ít được ghi nhận hơn về khả năng làm sạch/khử trùng thể tích không khí lưu chuyển lớn và nhanh chóng trong các hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) hay thậm chí là bên trong từng phòng. Điều này không hẳn là ám chỉ những công nghệ này không đạt hiệu quả như quảng cáo. Tuy nhiên, chúng ta chưa có nhiều bằng chứng được bình xét và đã được củng cố cho thấy hiệu lực và độ an toàn đã được chứng minh trong các điều kiện như thực tế. Do đó, các công nghệ này vẫn bị nhiều người xem là "mới nổi".

Cũng như với mọi công nghệ mới nổi, chúng tôi khuyến khích người tiêu dùng thận trọng và tự tìm hiểu thêm. Chỉ có đăng ký với nhà chức trách quốc gia hay địa phương thì không phải lúc nào cũng cho thấy được hiệu quả hay tính an toàn của sản phẩm. Người tiêu dùng nên nghiên cứu về công nghệ, cố gắng so khớp mọi tuyên bố cụ thể với mục đích sử dụng sản phẩm. Người tiêu dùng nên yêu cầu cung cấp dữ liệu xét nghiệm thể hiện, về mặt định lượng, lợi ích bảo vệ rõ ràng và độ an toàn cho người có mặt trong không gian đó, dưới những điều kiện phù hợp với mục đích sử dụng. Khi cân nhắc đến các công nghệ làm sạch không khí có thể hoặc có chủ đích tiếp xúc với người có mặt trong tòa nhà, thì dữ liệu về tính an toàn phải được áp dụng cho toàn bộ những người sử dụng không gian đó, bao gồm cả người có tình trạng sức khỏe có thể bị trầm trọng thêm do việc xử lý không khí. Ở những không gian lưu lại trong thời gian ngắn, những nơi mà việc tiếp xúc trung bình với người dân chỉ là tạm thời, thì điều quan trọng là cũng phải cân nhắc đến vấn đề tiếp xúc nghề nghiệp đối với những người lao động phải có mặt trong không gian đó trong thời gian kéo dài.

Tốt hơn là phải có dữ liệu hiệu suất được ghi chép lại trong điều kiện sử dụng thông thường từ nhiều nguồn, trong đó có một số nguồn độc lập, của bên thứ ba. Quý vị nên đặt ra nghi vấn đối với những tuyên bố về hiệu suất chưa được chứng minh hoặc có số nghiên cứu trường hợp hạn chế chỉ với một thiết bị trong một phòng và không có điều khiển tham chiếu. Tối thiểu là, khi cân nhắc mua và sử dụng các sản phẩm có công nghệ tạo khí ozone, quý vị nên xác minh xem thiết bị có đó đáp ứng chứng nhận chất lượng UL 867 (Tiêu Chuẩn dành cho Thiết Bị Làm Sạch Không Khí Tĩnh Điện) áp dụng cho thiết bị sản sinh mức ozone chấp nhận được, hoặc tốt hơn là chứng nhận tiêu chuẩn UL 2998 (Quy Trình Xác Thực Tuyên Bố Môi Trường (ECVP) về Lượng Ozone Sản Sinh từ Thiết Bị Làm Sạch Không Khí Bằng 0), vốn nhằm mục đích xác thực là không có khí ozone sinh ra.

Việc giám sát carbon dioxide (CO2) có thể cung cấp thông tin về thông gió trong một không gian nhất định, có thể được sử dụng để tăng mức độ bảo vệ trước nguy cơ lây truyền COVID-19. Các chiến lược có kết hợp sử dụng thiết bị giám sát CO có độ dao động lớn về chi phí và độ phức tạp. Tuy nhiên, mức độ phức tạp và chi phí cao không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với khả năng bảo vệ lớn hơn.

Từ lâu, các hệ thống giám sát CO2 thường đắt đỏ, yêu cầu phải có kiến thức sâu mới có thể lắp đặt và thiết lập chính xác, đồng thời đòi hỏi phải có các chương trình điều khiển tinh vi để tương tác hiệu quả với hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC) của tòa nhà trong thời gian thực. Chúng không được thiết kế để bảo vệ người hiện diện trong tòa nhà khỏi nguy cơ lây truyền dịch bệnh. Các chuyên gia phát triển thiết bị/phần mềm giám sát CO2 để vận hành hệ thống HVAC cho cả tòa nhà đã thực hiện công việc này suốt nhiều thập kỷ, với loại công nghệ được ứng dụng thường xuyên nhất để theo đuổi mục tiêu tiết kiệm điện năng. Khi khả năng ứng phó hiện tại với đại dịch đã tiến bộ hơn, công nghệ này đã được tiếp thị là một công cụ tiềm năng để cung cấp một chỉ báo về hiệu quả thông gió của tòa nhà, dẫn đến những câu hỏi là liệu việc giám sát nồng độ CO2 trong nhà có thể được sử dụng làm công cụ trợ giúp ra quyết định về thông gió hay không.

Ở một số môi trường HVAC được thiết kế tốt, có đặc tính tốt và được bảo trì tốt, việc sử dụng thiết bị giám sát CO2 cố định có thể cho nhiều thông tin. Khi được sử dụng, các thiết bị giám sát này thường được tích hợp vào những hệ thống thông gió được điều khiển theo nhu cầu (DCV), được thiết kế với mục đích chính là tối ưu hóa khả năng tiết kiệm điện năng thông qua giảm cấp khí từ ngoài trời. Tuy nhiên, hướng dẫn trong toàn bộ đại dịch vẫn là cao hơn mức thông gió tối thiểu bất cứ khi nào có thể, ngoài việc đeo khẩu trang, cách ly giao tiếp xã hội, tăng cường lọc và các lưu ý khác tập trung vào việc can thiệp. Từ đầu giai đoạn ứng phó với đại dịch này, cả CDC và ASHRAEexternal icon đều đã khuyến cáo vô hiệu hóa các hệ thống DCV và vận hành hệ thống thông gió ở lưu lượng khí tối đa, trong giới hạn an toàn của thiết bị.

Thiết bị CO có vị trí cố định đo nồng độ CO2 như một chỉ báo về số người trong không gian đó. Khi nồng độ CO2 tăng lên, hệ thống DCV HVAC tăng lượng thông khí ngoài trời vào trong không gian để làm loãng CO2 (và ngược lại). Số lượng cảm biến CO2, vị trí đặt các cảm biến đó và vấn đề hiệu chỉnh, bảo dưỡng tập hợp lại thành một vấn đề lớn và phức tạp mà nhất định không được bỏ qua. Ví dụ, nồng độ CO2 đo được bằng một thiết bị giám sát cố định, gắn tường không hẳn là lúc nào cũng thể hiện nồng độ thực tế trong không gian có người hiện diện. Nếu luồng không khí từ HVAC trong phòng hoặc thậm chí là không khí đưa vào từ cửa sổ tràn qua vị trí đặt thiết bị này, thì kết quả đo nồng độ tương ứng sẽ thấp giả tạo. Nếu phòng có sự hòa trộn không khí tốt, thì nồng độ đo được phải gần đúng với nồng độ thật, nhưng các phòng thường hiếm khi được hòa trộn không khí tốt, đặc biệt là ở những tòa nhà kiểu cũ với hệ thống thông gió đã lỗi thời (hoặc hoàn toàn không có). Ngoài ra, nếu kết quả nồng độ CO2 bị tăng cao dẫn đến lưu lượng khí vào một phòng tăng, thì lượng không khí đó có thể bị "lấy cắp" từ các phòng khác sử dụng cùng hệ thống HVAC. Điều này có thể dẫn đến tình trạng nồng độ CO2 bị tăng ở những không gian khác nơi hệ thống HVAC không thể kiểm soát.

Lượng thông tin về mối liên hệ trực tiếp giữa nồng độ CO2 với nguy cơ lây truyền COVID-19 còn hạn chế. Những thay đổi trong nồng độ CO2 có thể cho thấy sự thay đổi ở lượng người hiện diện trong phòng và được sử dụng để điều chỉnh lượng không khí được đưa từ ngoài vào. Tuy nhiên, nồng độ CO2 không thể dự đoán được người nào nhiễm SARS-CoV-2 và có thể làm lây lan vi-rút, lượng hạt vi-rút trong không khí do người nhiễm bệnh phát ra hay liệu hệ thống HVAC có hiệu quả làm loãng và loại bỏ nồng độ vi-rút ở gần điểm phát ra hay không. Một ví dụ đơn giản là, một căn phòng nhỏ có ba người sẽ có cùng mức CO2 (và do đó mà có cùng tỷ lệ thông khí từ ngoài trời vào do hệ thống DCV kiểm soát) dù không ai nhiễm SARS-CoV-2 hay là có một hoặc nhiều người nhiễm vi-rút. Khả năng thông khí dựa trên kết quả đo lường CO2 không thể nhận biết được nguy cơ lây truyền tăng lên trong tình huống thứ hai.

Một cách sử dụng khiêm tốn, tiết kiệm chi phí và chính xác hơn của việc giám sát CO2 là sử dụng dụng cụ lưu động kết hợp với hệ thống HVAC không có hiệu định chuẩn biến điệu dựa trên nồng độ CO2. Quý vị có thể mua thiết bị đo CO2 với giá dưới $300 và những kết quả đo của nó có thể được thu thập/ghi nhận ở gần vùng thở của khu vực có người hiện diện trong mỗi phòng. Theo cách tiếp cận này, van điều tiết không khí ngoài trời của HVAC có thể được thiết lập để đưa nhiều không khí ngoài trời vào hơn là theo yêu cầu của luật (theo khuyến cáo của CDC và ASHRAE) và nồng độ CO2 trong kết quả ở mỗi phòng ở mức độ sử dụng thực tế được ghi lại bằng một thiết bị đo CO2 lưu động cầm tay, đã được hiệu chỉnh. Tài liệu này sẽ là mốc chuẩn về nồng độ CO2 cho mỗi phòng dưới điều kiện vận hành của HVAC và mức độ người hiện diện.

Một mốc chuẩn mục tiêu có thể áp dụng để xác định thông gió tốt là số đo CO2 dưới 800 phần triệu (ppm). Nếu số đo mốc chuẩn ở trên mức này, hãy tái đánh giá khả năng tăng lượng không khí ngoài trời đưa vào. Nếu không thể xuống dưới 800 ppm, việc lệ thuộc nhiều hơn vào hệ thống lọc không khí tăng cường (bao gồm máy lọc không khí HEPA lưu động) sẽ là cần thiết. Sau khi nồng độ theo mốc chuẩn được xác lập, hãy đo lường định kỳ và đối chiếu với mốc chuẩn. Chừng nào lưu lượng thông khí không đổi (không khí ngoài trời hoặc tổng lượng không khí) và công suất sử dụng phòng không tăng, thì chừng đó nồng độ CO2 lưu động trong tương lai bằng 110% mốc chuẩn còn cho thấy có thể có vấn đề cần được điều tra. Trong điều kiện ứng phó với đại dịch, việc ứng dụng các công cụ đo lường CO2 lưu động trên thực tế là phương thức tiết kiệm chi phí để giám sát mức độ thông gió cho tòa nhà.

Đối với COVID-19, những bước đầu tiên để giảm nồng độ vi-rút trong nhà là đeo khẩu trang, giữ khoảng cách và giảm mức độ sử dụng không gian. Cải thiện thông khí là một chiến lược phòng ngừa bổ sung. Với các hệ thống thông gió, việc tăng không khí ngoài trời lên trên mức yêu cầu tối thiểu theo luật, tăng thông gió tổng và tăng hiệu suất lọc không khí sẽ cho hiệu quả kiểm soát lây truyền bệnh truyền nhiễm tốt hơn so với kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm trong nhà. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiệt độ và/hoặc độ ẩm để giảm nguy cơ lây truyền dịch bệnh nên được xem xét theo từng trường hợp, có cân nhắc đến tường bao nhà, công suất của hệ thống sưởi, thông gió và điều hòa không khí (HVAC), mức độ kiểm soát và/hoặc tự động hóa của tòa nhà, tỷ lệ lây truyền COVID-19 tại địa phương, mọi đặc điểm lâm sàng riêng có của người hiện diện và khí hậu địa phương.

Cả nhiệt độ và độ ẩm đều có thể ảnh hưởng đến sự lây truyền bệnh truyền nhiễm, trong đó có COVID-19, nhưng sự ảnh hưởng đó có các giới hạn trên thực tiễn. Nghiên cứu về tác động của nhiệt độ đã cho thấy SARS-CoV-2, chủng vi-rút gây bệnh COVID-19, rất nhạy cảm với nhiệt độ ở mức cao, bị vô hiệu hóa 99,99% chỉ trong vài phút ở 70°C (158°F). Tuy nhiên, mức nhiệt này cách xa phạm vi giới hạn mà con người cảm thấy thoải mái và có thể làm hư hại một số vật liệu của tòa nhà. Dù nhiệt độ dưới 70°C (158°F) cũng có hiệu quả, song thời gian tiếp xúc bắt buộc để vô hiệu hóa tăng lên khi nhiệt độ giảm đi. Vì vậy, nhiệt độ ở mức cao sẽ cho khả năng khử hại của vi-rút SARS-CoV-2 trong không khí hoặc trên các bề mặt, nhưng việc sử dụng phương pháp tăng nhiệt độ đơn thuần để khử hại thường không được khuyến nghị và cũng không thực tế với các không gian có người sử dụng. Một lưu ý quan trọng khác là khi nhiệt độ trong một không gian tăng lên, thì mức độ ẩm liên quan tương ứng cũng giảm đi.

Bằng chứng hiện tại chưa đủ thuyết phục rằng độ ẩm làm giảm đáng kể khả năng lây truyền SARS-CoV-2 trên mức xuất phát từ thông gió và lọc khí tốt. Một số nghiên cứu đã cho thấy khả năng sống sót của vi-rút, bao gồm vi-rút corona ở người, có thể bị giảm đi khi độ ẩm tương đối trong khoảng từ 40-60%. Tuy nhiên, các mức giảm cũng chỉ khiêm tốn và vẫn có những giá trị ngoại lệ với kết quả tìm hiểu này. Chính vì vậy, cả ASHRAE và CDC đều không khuyến nghị áp dụng tạo độ ẩm chỉ cho mục đích hạn chế lây truyền COVID-19. Dù không ảnh hưởng đến mức độ lây truyền, cũng có các nghiên cứu đã bình duyệt cho thấy việc tránh cho không khí bị khô quá mức có thể giúp duy trì hiệu quả của hệ miễn dịch trong cơ thể người.

Một số hệ thống HVAC có thể chủ động kiểm soát cả nhiệt độ và độ ẩm. Tuy nhiên, đa số các hệ thống HVAC không có tính năng tạo độ ẩm riêng. Tình trạng giảm độ ẩm nào đó xảy ra trong các tháng ấm hơn do ảnh hưởng của việc hạ nhiệt độ không khí ấm và ẩm xuống dưới điểm sương và khiến nước ngưng tụ trong không khí. Ít phổ biến hơn là khả năng hạn chế độ ẩm thấp bằng việc phun hơi nước vào không khí.

Hầu hết các tòa nhà để ở và thương mại hiện tại nằm trong vùng khí hậu lạnh không được xây dựng để chống ăn mòn và tình trạng tích tụ ẩm quá mức có thể dẫn đến gây ẩm cả tòa nhà trong thời gian dài. Nếu sử dụng tính năng tạo độ ẩm tăng thêm vào mùa đông để duy trì cảm giác thoải mái và tránh khô niêm mạc mắt và mũi quá mức, trước tiên hãy phân tích tường bao của tòa nhà để xác nhận rằng tình trạng ngưng tụ và tích tụ ẩm sẽ không trở thành vấn đề. Tiêu Chuẩn ASHRAE 160 (Tiêu Chí Phân Tích Thiết Kế Kiểm Soát Ẩm trong Tòa Nhà) có nêu hướng dẫn phân tích nhiệt ẩm của tường bao tòa nhà. Với những tòa nhà thương mại được xây dựng đúng quy cách để cho phép tạo độ ẩm lâu dài và đã lắp đặt tính năng tạo độ ẩm, chẳng có lý do gì để tạo ẩm cho không khí đến mức độ thoải mái trong các tháng mùa đông.

Trong môi trường để ở, máy tạo ẩm lưu động trong nhà có thể được sử dụng để tạo sự thoải mái về cảm giác và giảm tình trạng giảm độ ẩm quá mức. Trong những trường hợp này, hãy sử dụng một máy tạo độ ẩm tích hợp sẵn ẩm kế và kiểm soát độ ẩm tương đối gần mức 40%. Độ ẩm cao hơn không hẳn là tốt hơn và có thể dẫn đến tình trạng ẩm, mốc cục bộ cũng như vấn đề khác kéo dài về chất lượng không khí trong nhà. Việc duy trì và vệ sinh hệ thống tạo độ ẩm lưu động là rất quan trọng. Hãy thay nước trong máy tạo độ ẩm hàng ngày và bảo trì, vệ sinh máy tạo độ ẩm theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất.

Có. Dù chỉ dùng quạt thì không thể bù đắp được tình trạng thiếu không khí ngoài trời, song quý vị có thể sử dụng quạt để làm tăng hiệu quả của việc mở cửa sổ, như được mô tả trong danh sách các lưu ý về cải thiện khả năng thông gió của CDC. Quý vị cũng có thể sử dụng quạt trong nhà để tăng cường hòa trộn không khí. Việc tăng hòa trộn không khí giúp phân bố không khí sạch được cấp và làm loãng nồng độ hạt vi-rút trong cả phòng, cũng làm giảm khả năng bọt khí ứ đọng ở nơi nồng độ vi-rút có thể bị dồn lại. Cũng giống như mọi hoạt động dùng quạt trong đại dịch COVID-19, hãy cẩn trọng để giảm thiểu khả năng tạo ra các kiểu không khí thổi trực tiếp từ người này sang người khác:

  • Tránh bật quạt tốc độ cao
  • Dùng quạt trần với vận tốc chậm và có thể là theo hướng luồng ngược (để không khí bị hút lên phía trần nhà)
  • Chỉnh hướng quạt thổi về góc không có người và không gian tường hay hướng lên vùng trên khi có người.

Quạt cũng có thể cho phép dòng khí có định hướng từ nơi sạch sang nơi kém sạch hơn. Những cách ứng dụng này nên được đánh giá chặt chẽ để tránh các hệ quả không mong muốn và chỉ được áp dụng khi được củng cố bởi một bản đánh giá rủi ro an toàn.

Rào chắn có thể phân tách các không gian gần nhau. Khi dùng để kiểm soát bệnh truyền nhiễm, rào chắn dùng để ngăn không cho người từ một bên của rào chắn không bi phơi nhiễm với người phía bên kia của rào chắn với dịch, giọt bắn và các hạt gây truyền nhiễm. Việc một rào chắn có ảnh hưởng tới hệ thống thông gió đã được cải thiện hay không tùy thuộc vào cách lắp đặt rào chắn đó. Rào chắn bảo vệ đôi khi có thể giúp cải thiện thông gió nhưng đôi khi nó cũng có thể gây ảnh hưởng thông gió. Đôi khi chúng không có tác động gì với hệ thống thông gió.

Rào chắn bảo vệ có thể hỗ trợ hệ thống thông gió đã được cải thiện khi được dùng để hỗ trợ thông gió theo hướng hoặc tạo mức chênh áp suất mong muốn giữa không gian có không khí sạch với nơi ít sạch hơn. Các rào chắn có thể điều chỉnh với luồng gió dự kiến giúp dẫn luồng gió tới địa điểm mong muốn như lưới tản nhiệt hồi khí HVAC hoặc đầu vào của bộ lọc gió di động. Các tình huống ví dụ minh họa cho việc triển khai loại rào chắn này bao gồm những rào chắn nơi có nguồn đã biết có khả năng có khí dung truyền nhiễm như phòng phẫu thuật nha khoa hay trạm xét nghiệm COVID-19.

Hoặc, rào chắn có thể được đặt giữa hai khu vực để cách ly tốt hơn một bên của rào chắn với phía bên kia. Trong bố cục này, rào chắn cũng có thể hỗ trợ bố cục thiết kế HVAC trong việc thiết lập mức chênh áp suất mong muốn giữa các không gian cận kề. Nếu cần thiết, khe hở nhỏ truyền qua hoặc tấm ốp có thể thu vào gắn với rào chắn có thể cho phép chuyển đồ vật qua lại từ bên này sang bên kia. Những ví dụ minh họa về nơi áp dụng loại rào chắn này có thể sử dụng như bàn lễ tân hoặc quầy bán vé.

Khi không được lắp đặt cẩn thận, các rào chắn có thể gây khó khăn không giúp thông gió tốt. Các rào chắn có thể vô tình chặn việc phân phối luồng không khí trong một không gian, từ đó dẫn tới tình trạng tích tụ nồng độ khí dung của con người vẫn còn bay lơ lửng trong không khi trong hàng phút đến hàng giờ. Trong trường hợp này, mọi người có thể bị phơi nhiễm với nồng độ khí dung truyền nhiễm cao hơn so với mức họ phải đối mặt khi không có rào chắn. Hàng rào càng lớn, khả năng xảy ra việc này càng cao. Để giảm khả năng này, hãy đảm bảo rằng các rào chắn được đặt đúng chính xác cho nơi dự kiến có người sử dụng và rằng chúng không lớn hơn mức cần thiết để tránh truyền trực tiếp các giọt bắn từ đường hô hấp có thể "văng" trực tiếp từ người này sang người khác.

Bất cứ khi nào sử dụng rào chắn, nên tiến hành kiểm tra tuần hoàn luồng không khí bằng thiết bị truy vết "khói" hoặc thiết bị tạo khói cầm tay. Kiểm tra này có thể hỗ trợ việc đánh giá việc tuần hoàn luồng không khí trong các không gian có người sử dụng. Nếu quan sát thấy các túi khí ứ đọng, thiết kế lại hoặc định hướng lại rào chắn có thể giúp giảm thiểu tình trạng xuất hiện túi khí đó. Sửa đổi tuần hoàn luồng không khí như điều chỉnh vị trí đặt cửa gió cấp hoặc xả bộ lọc khí di động cũng có thể giúp giảm sự hình thành các túi khí ứ đọng.

Thông tin cập nhật trước đó