Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Sàng Lọc Triệu Chứng COVID-19 cho Học Sinh K-12: Hạn Chế và Lưu Ý

Sàng Lọc Triệu Chứng COVID-19 cho Học Sinh K-12: Hạn Chế và Lưu Ý
Cập nhật ngày 23 tháng 7 năm 2020

Tài liệu này cung cấp hướng dẫn về sàng lọc triệu chứng COVID-19 cho các trường K-12 như một phần của quy trình mở cửa trường học trở lại. Hướng dẫn chi tiết ở đây chỉ dành cho học sinh tại các cơ sở trường học K-12. Số trẻ được báo cáo nhiễm SARS-CoV-2 (vi-rút gây ra dịch bệnh COVID-19) biểu hiện các triệu chứng, các loại triệu chứng, và tính chất nghiêm trọng của các triệu chứng này khác với người lớn. Ngoài ra, việc loại trừ học sinh khỏi các trải nghiệm giáo dục và phát triển thiết yếu cho kết quả khác với việc loại trừ các cá nhân khỏi các môi trường khác. Do đó, lưu ý được mô tả trong ở đây khác với những lưu ý dành cho các đối tượng và môi trường khác. Để tìm hiểu thêm về hướng dẫn liên quan đến sàng lọc giáo viên và nhân viên, vui lòng tham khảo Hướng Dẫn Tạm Thời của CDC Dành Cho Các Doanh Nghiệp và Chủ Lao Động về Ứng Phó với Dịch Bệnh Vi-rút Corona 2019 và phần "Phòng Ngừa Lây Truyền Giữa Nhân Viên" của Bộ Công Cụ Khôi Phục Hoạt Động Kinh Doanh của CDCpdf icon.

Mỗi ngày chúng ta lại hiểu thêm về COVID-19 và khi có thêm thông tin, CDC sẽ tiếp tục cập nhật và chia sẻ thông tin với quý vị. Khi có thêm thông tin và hiểu biết về COVID-19, hướng dẫn này có thể thay đổi theo. Tuy nhiên, dựa trên bằng chứng tốt nhất có sẵn tại thời điểm này:

  • CDC hiện không khuyến nghị các trường học tiến hành sàng lọc triệu chứng phổ quát (sàng lọc tất cả học sinh lớp  K-12).
  • Cha mẹ hoặc người chăm sóc được đặc biệt khuyến khích theo dõi các dấu hiệu bệnh truyền nhiễm của con cái mình mỗi ngày.
  • Học sinh bị bệnh không nên đến trường học.

COVID-19 là một căn bệnh mới phát hiện do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra. Các nhà khoa học vẫn đang tìm hiểu về cách chúng lây lan và tác động tới trẻ em cũng như vai trò có thể có của trẻ em trong việc lây lan căn bệnh này. Dữ liệu hạn chế về COVID-19 ở trẻ em cho thấy trẻ em ít có khả năng mắc COVID-19 hơn người lớn, và nếu bị nhiễm COVID-19, trẻ em thường mắc bệnh ít nghiêm trọng hơn người lớn. Mặc dù không phổ biến, tử vong và bệnh hiếm gặp như hội chứng viêm đa hệ thống (MIS-C) vẫn có thể gặp ở trẻ em.

Người mắc COVID-19 biểu hiện một loạt các triệu chứng được báo cáo - từ các triệu chứng nhẹ đến bệnh nghiêm trọng. Các triệu chứng có thể xuất hiện 2-14 ngày sau khi phơi nhiễm với SARS-CoV-2. Các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Sốt hoặc ớn lạnh
  • Ho
  • Hụt hơi hoặc khó thở
  • Mệt mỏi
  • Đau cơ hoặc đau người
  • Đau đầu
  • Mới mất vị giác hoặc khứu giác
  • Đau họng
  • Ngạt mũi hoặc chảy nước mũi
  • Buồn nôn hoặc nôn mửa
  • Tiêu chảy

Danh sách này không bao gồm tất cả các triệu chứng có thể mắc phải, trẻ em và thanh thiếu niên bị nhiễm SARS-CoV-2 có thể biểu hiện bất kỳ, tất cả hoặc không có bất kỳ triệu chứng nào trong số này. (Xem Các Triệu Chứng của Vi-rút Corona để biết thêm thông tin).

Do các triệu chứng có phạm vi rộng và trên thực tế, một số người bị nhiễm SARS-CoV-2 (vi-rút gây ra dịch bệnh COVID-19) không biểu hiện triệu chứng, nên biện pháp sàng lọc triệu chứng mà các trường học tiến hành để phát hiện COVID-19 vẫn có những hạn chế.

Hạn Chế của Biện Pháp Sàng Lọc Triệu Chứng Như Một Phần Của Chiến Lược Mở Cửa Trường Học Trở Lại

  • Sàng lọc triệu chứng sẽ không xác định được một số học sinh bị nhiễm SARS-CoV-2. Sàng lọc triệu chứng không hữu ích trong việc xác định các cá nhân bị nhiễm SARS-CoV-2 mà không có triệu chứng hoặc tiền triệu chứng (họ chưa phát triển các dấu hiệu hoặc triệu chứng mà sẽ biểu hiện triệu chứng muộn hơn). Những người khác có thể biểu hiện các triệu chứng rất nhẹ khiến họ không để ý. Trên thực tế, trẻ là đối tượng có nhiều khả năng hơn người lớn nhiễm bệnh mà không có triệu chứng hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ. [1], [2], [3] Tỷ lệ chính xác trẻ bị nhiễm SARS-COV-2 mà không có triệu chứng vẫn chưa được biết,  nhưng các nghiên cứu lớn gần đây đã đưa ra con số khoảng 16% trẻ bị nhiễm SARS-CoV-2 mà không biểu hiện triệu chứng. [4] Điều này có nghĩa là ngay cả khi các trường học có thực hiện sàng lọc triệu chứng tại chỗ, vẫn có khả năng không xác định được một số học sinh bị nhiễm SARS-CoV-2 tiềm ẩn nguy cơ lây truyền vi-rút sang người khác.
  • Sàng lọc triệu chứng sẽ chỉ xác định được một người bị bệnh, nhưng bệnh đó có thể không liên quan đến COVID-19. Dịch bệnh COVID-19 có nhiều triệu chứng cũng phổ biến trong các bệnh khác ở trẻ em như cảm lạnh thông thường, cúm hoặc dị ứng theo mùa. Bảng dưới đây minh họa một số điểm giống nhau giữa các triệu chứng của COVID-19 và các bệnh thông thường khác.
  • Bảng. Nhiều triệu chứng của COVID-19 cũng xuất hiện trong các bệnh thông thường
    Triệu chứng của COVID-19​​​​​​​ Viêm họng liên cầu khuẩn Cảm lạnh thông thường Cúm Bệnh hen Dị ứng theo mùa
    Sốt hoặc ớn lạnh X X
    Ho X X X X
    Đau họng X X X X
    Hụt hơi hoặc khó thở X
    Mệt mỏi X X X X
    Buồn nôn hoặc Nôn mửa X X
    Tiêu chảy X X
    Ngạt mũi hoặc Chảy nước mũi X X X
    Đau cơ hoặc đau người X X X
  • Chú ý: Bảng trên không bao gồm tất cả các triệu chứng của COVID-19
  • Tải xuốngpdf icon

Sự giống nhau giữa các triệu chứng của COVID-19 với các bệnh thông thường khác có nghĩa là nhiều người có triệu chứng giống với COVID-19 có thể thực sự đang mắc một bệnh khác. Điều này thậm chí còn có nhiều khả năng xảy ra ở trẻ nhỏ hơn vì trẻ là đối tượng thường mắc nhiều bệnh liên quan đến vi-rút mỗi năm. Ví dụ, trẻ nhỏ thường mắc đến tám bệnh về đường hô hấp hoặc "cảm lạnh" mỗi năm. [1]Mặc dù COVID-19 và các bệnh như cảm lạnh hoặc cúm có các triệu chứng tương tự, nhưng các bệnh này có quá trình khác nhau.

Một số nghiên cứu nỗ lực nhằm xác định xem các triệu chứng nào có khả năng đưa dự đoán tốt nhất về một cá nhân đang mắc COVID-19, nhưng các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những người trên 18 tuổi. [6], [7], [8], [9] Ở trẻ em, sốt là triệu chứng được báo cáo thường gặp nhất. Tuy nhiên, sốt là biểu hiện phổ biến nhất trong nhiều bệnh và chỉ số thân nhiệt có thể được đo không chính xác và hiểu sai đó là sốt. Ngoài ra, không có triệu chứng hoặc tập hợp các triệu chứng nào chỉ xuất hiện ở trẻ em được chẩn đoán mắc COVID-19.

Ngoài ra, học sinh mắc các bệnh mãn tính như hen suyễn hoặc dị ứng có thể có các triệu chứng như ho hoặc nghẹt mũi mà không phải là bị nhiễm bệnh. Do đó, sàng lọc triệu chứng có khả năng loại trừ liên tiếp một số học sinh khỏi trường học mặc dù họ không mắc COVID-19 hay bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào. Do đó, biện pháp này có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch ở những học sinh đã thường xuyên phải nghỉ học vì mắc các bệnh mãn tính.

Học sinh mắc các bệnh truyền nhiễm không nên đến trường, nhưng hầu hết các bệnh này đều không yêu cầu về mức độ hoặc thời gian cách ly giống như COVID-19. Loại trừ học sinh khỏi trường học lâu hơn so với yêu cầu trong các chính sách của trường học hiện tại (ví dụ: mắc bệnh mà không sốt và không cần dùng thuốc trong 24 giờ) chỉ dựa trên các triệu chứng COVID-19 có rủi ro loại trừ học sinh khỏi trường học nhiều lần và phải nghỉ học lâu dài không cần thiết.

Chỉ sàng lọc triệu chứng không đủ để giảm thiểu nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 vì những hạn chế đã được đề cập ở trên. Ngay cả khi thực hiện sàng lọc triệu chứng, các chiến lược giảm thiểu khác (như thúc đẩy các hành vi lành mạnh, duy trì môi trường và hoạt động lành mạnh và chuẩn bị ứng phó khi có người mắc bệnh) vẫn cần thiết để bảo vệ học sinh, giáo viên, và nhân viên khỏi nhiễm COVID-19.

Tại thời điểm hiện tại, vẫn chưa xác định được mức độ chính xác của hiệu quả sàng lọc triệu chứng tại trường học. Mặc dù sàng lọc có thể làm giảm một số trường hợp làm lây truyền SARS-COV-2 trong trường học, nhưng khả năng lây truyền vẫn có thể xảy ra do học sinh nhiễm bệnh mà không có triệu chứng, tiền triệu chứng và có triệu chứng nhẹ. Ngoài ra, vì sàng lọc triệu chứng có thể xác định các cá nhân có các triệu chứng không liên quan đến COVID-19 và đôi khi không liên quan đến bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào, vẫn có thể loại trừ học sinh khỏi trường học và điều này có thể gây ra những hậu quả ngoài ý muốn. Chính vì những hạn chế này mà CDC hiện không khuyến nghị tiến hành sàng lọc triệu chứng phổ quát tại các trường học.

Những Lưu Ý Khi Sử Dụng Sàng Lọc Triệu Chứng Tại Môi Trường Học Đường

Đối với các trường học chọn tiến hành sàng lọc triệu chứng tại chỗ, CDC đưa ra những lưu ý sau:

  • Xem xét các bằng chứng khoa học được nêu ở trên và đánh giá rủi ro cũng như lợi ích khi thực hiện sàng lọc học sinh, nhân viên và các cộng đồng lớn hơn.
  • Xem xét cách thức vận hành chính sách của trường liên quan đến sàng lọc triệu chứng để cân bằng các nguồn lực cần thiết và tính khả thi của việc thực hiện cũng như nguy cơ lây truyền trong trường học.
  • Xem xét cách thức để giảm thiểu khả năng loại trừ các học sinh không bị nhiễm COVID-19 khỏi các trải nghiệm phát triển quan trọng và giảng dạy thiết yếu.
  • Trước khi chia sẻ thông tin về danh tính cá nhân của các học sinh liên quan đến COVID-19, hãy xem xét các yêu cầu của Liên bang, tiểu bang và địa phương, bao gồm các quy định trong Đạo luật về Quyền riêng tư và Quyền giáo dục gia đình (FERPA). 

Một số yếu tố mà các trường học có thể cân nhắc bao gồm:

Tính khả thi

  • Nếu các trường học tiến hành sàng lọc triệu chứng, liệu trường học có đủ nhân viên được đào tạo đầy đủ về quy trình sàng lọc cũng như quy cách mặc và tháo trang bị bảo hộ cá nhân (PPE) không?
  • Làm sao để xác minh kết quả sàng lọc (ví dụ, đo thân nhiệt không đúng cách có thể làm sai lệch số đo nhiệt độ ở mức cao và hiểu nhầm là bị sốt)?
  • Trường học có sẵn đầy đủ số lượng các trang thiết bị thích hợp (ví dụ: nhiệt kế, PPE) không?
  • Làm sao để làm sạch khu vực sàng lọc đúng cách và đảm bảo các trang thiết bị an toàn để sử dụng?
  • Các quy trình tiến hành sàng lọc tại chỗ có đảm bảo người thực hiện sàng lọc và học sinh duy trì khoảng cách an toàn trong quá trình thực hiện không?
  • Nếu cha mẹ, người giám hộ hoặc người chăm sóc là người tiến hành sàng lọc, liệu các kết quả có được báo cáo và xác minh không?
  • Các quy trình sẽ được sử dụng để theo dõi nếu cha mẹ, người giám hộ hoặc người chăm sóc không báo cáo kết quả sàng lọc?
  • Trường học sẽ cung cấp loại hình đào tạo nào dành cho giáo viên và các nhân viên khác liên quan đến cách thức trao đổi với phụ huynh về việc tiến hành sàng lọc triệu chứng tại nhà? Những biện pháp bảo vệ nào nên được đưa vào dành cho các nhân viên có nguy cơ dễ bị nhiễm COVID-19?

Giảm thiểu tác hại

  • Những chiến lược nào là cần thiết để giảm thiểu tác hại cho học sinh và gia đình của họ khi học sinh bị loại trừ khỏi trường học, chẳng hạn như những học sinh phụ thuộc vào bữa ăn ở trường hoặc ảnh hưởng đến khả năng làm việc của phụ huynh trong trường hợp các biện pháp sàng lọc xác định sai các triệu chứng mãn tính của học sinh thành triệu chứng của COVID-19?
  • Học sinh mắc các bệnh mãn tính hoặc nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt sẽ được hỗ trợ như thế nào để giảm thiểu nguy cơ sàng lọc sai các triệu chứng mãn tính thành triệu chứng của COVID-19?
  • Làm sao để giảm thiểu sự kỳ thị đối với những học sinh được xác định là có các triệu chứng của COVID-19, bất kể họ có thực sự mắc COVID-19 không?
  • Sàng lọc hàng ngày có tác động cảm xúc như thế nào đến trẻ nhỏ và làm sao để làm giảm cảm giác sợ hãi các giao thức giảm thiểu nguy cơ mới, chẳng hạn như việc người lớn mặc các trang bị bảo hộ cá nhân (PPE)?
  • Làm sao để học sinh bị bệnh có cơ hội bù đắp các lớp học đã bỏ lỡ mà không bị phạt để giảm bớt lo lắng về tinh thần hoặc thể chất về các cơ hội học tập đã bỏ lỡ khi các biện pháp sàng lọc xác định sai các triệu chứng mãn tính của học sinh thành triệu chứng của COVID-19?

Mức độ lây truyền cộng đồng trong khu vực xung quanh trường học

  • Nếu lây truyền COVID-19 trong cộng đồng ở mức rất thấp, sàng lọc triệu chứng có nhiều khả năng tìm ra những người có triệu chứng của những bệnh khác mà không phải là COVID-19. Sàng lọc triệu chứng trong tình huống này sẽ có nhiều khả năng tìm ra các bệnh khác, không phải là SARS-CoV-2/COVID-19, bao gồm một số triệu chứng mãn tính nhất định, một số bệnh trong đó học sinh có thể không cần phải ở nhà.
  • Khi sự lây truyền cộng đồng diễn ra nhiều hơn, các cá nhân có triệu chứng có khả năng thực sự mắc COVID-19 cao hơn. Do đó, sàng lọc triệu chứng có thể hữu ích hơn khi lây truyền COVID-19 trong cộng đồng ở mức cao.

Khuyến cáo của cơ quan y tế công cộng địa phương

  • Bất kể các yếu tố trên, các trường cần đảm bảo rằng chính sách của họ tuân theo khuyến nghị của các nhân viên y tế công cộng tại địa phương và phù hợp với luật pháp Liên bang, tiểu bang và địa phương, bao gồm cả FERPA.
  • Các trường học chọn tiến hành sàng lọc triệu chứng nên liên hệ với sở y tế địa phương để tham khảo thêm thông tin liên quan đến các biện pháp thực hành và thực hiện. 

Sử dụng các biện pháp sàng lọc triệu chứng

Các trường học nên tìm hiểu những điều nên và không nên làm khi tiến hành sàng lọc triệu chứng. Khi triển khai, mục đích của sàng lọc triệu chứng là xác định các cá nhân có thể mắc COVID-19 và loại trừ các cá nhân đó khỏi cơ sở để làm giảm nguy cơ lây truyền sang người khác. Sàng lọc triệu chứng không đánh giá liệu việc một học sinh đến trường học có an toàn không hay nguy cơ học sinh có thể mắc các bệnh nghiêm trọng nếu họ phát triển các triệu chứng bệnh COVID-19. Sàng lọc triệu chứng cũng không cung cấp đầy đủ thông tin để chẩn đoán khả năng một người bị nhiễm COVID-19.

Không có một triệu chứng duy nhất và cụ thể nào có thể đưa ra để chẩn đoán khả năng một người bị nhiễm COVID-19. Một xét nghiệm vi-rút COVID-19 là cần thiết để xác nhận nếu ai đó hiện đang bị nhiễm bệnh. Các trường học có thể đã có các tiêu chí về quản lý ốm đau để nhận học sinh vào trường; đây là cơ hội để xem xét lại các tiêu chí đó và cân nhắc việc khuyến nghị tuân thủ chặt chẽ hơn các tiêu chí về quản lý ốm đau hiện tại của trường học.

Mặc dù CDC hiện không khuyến nghị tiến hành sàng lọc triệu chứng phổ quát ở các trường học, nhưng học sinh vẫn không nên đến trường khi đã bị bệnh. Sàng lọc triệu chứng tại nhà do học sinh và cha mẹ, người giám hộ hoặc người chăm sóc thực hiện ban đầu để xác định thời điểm học sinh có thể biểu hiện các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh cũng như hành động để ứng phó (chẳng hạn như ở nhà). Nhân viên của nhà trường cũng có thể phụ trách thực hiện quá trình này bằng cách theo dõi các triệu chứng rõ ràng của bất kỳ loại bệnh truyền nhiễm nào có thể biểu hiện ở trẻ khi ở trường cũng như giúp học sinh và gia đình thực hiện các hành động cần thiết.

Các trường học cần nâng cao hiểu biết cho học sinh, phụ huynh, người chăm sóc, người giám hộ và nhân viên về tầm quan trọng của việc học sinh phải ở nhà khi bị bệnh tối thiểu 24 giờ sau khi khỏi sốt (nhiệt độ trong khoảng 100,4 hoặc cao hơn) hoặc các dấu hiệu bị sốt (ớn lạnh, cảm thấy rất nóng, đỏ bừng, hoặc đổ mồ hôi) mà không sử dụng thuốc hạ sốt (ví dụ: Tylenol). Các chính sách khuyến khích và hỗ trợ học sinh ở nhà khi bị bệnh sẽ giúp ngăn ngừa lây truyền SARS-CoV-2 (và các bệnh khác bao gồm cúm) cũng như giúp các trường học duy trì mở cửa.

Sàng lọc triệu chứng tại nhà có thể hữu ích để xác định xem liệu học sinh:

  1. hiện có đang mắc bệnh truyền nhiễm mà có thể làm giảm sút khả năng học tập của họ không, hoặc
  2. có nguy cơ lây truyền bệnh sang các học sinh và nhân viên khác trong trường không.

Nhà trường nên bao gồm những nội dung gì trong quy trình thực hiện sàng lọc triệu chứng tại nhà cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ?

Các trường học chọn khuyến khích phụ huynh, người giám hộ hoặc người chăm sóc tiến hành sàng lọc triệu chứng tại nhà hàng ngày nên yêu cầu phụ huynh báo cáo câu trả lời liên quan đến hai chủ đề: Các Triệu Chứng và Tiếp Xúc Gần/Phơi Nhiễm Tiềm Ẩn (xem bên dưới). Cha mẹ, người giám hộ và người chăm sóc có thể tự báo cáo câu trả lời của những câu hỏi này thông qua cổng thông tin y tế trường học hoặc nền tảng giao tiếp của trường học vào buổi sáng trước khi học sinh đi tới trường. Các trường học có thể sử dụng mẫu dưới đây để chia sẻ với phụ huynh và hỗ trợ báo cáo hàng ngày.

Sàng Lọc Hàng Ngày Tại Nhà Đối Với Học Sinh

Phụ huynh: Vui lòng hoàn thành kiểm tra nhanh triệu chứng này vào mỗi sáng và báo cáo thông tin về sức khỏe con của quý vị [ĐIỀN VÀO HƯỚNG DẪN BÁO CÁO CỦA TRƯỜNG HỌC] vào buổi sáng trước khi con quý vị đi đến trường.

Sàng Lọc Hàng Ngày Tại Nhà Đối Với Học Sinh pdf icon[trang 1]

PHẦN 1: Các triệu chứng

Nếu con quý vị có bất kỳ triệu chứng nào sau đây, điều đó cho thấy có thể trẻ đang mắc bệnh mà làm giảm sút khả năng học tập và có nguy cơ lây bệnh cho người khác. Vui lòng kiểm tra con của quý vị các triệu chứng sau:

    • square icon Nhiệt độ 100,4 độ Fahrenheit trở lên khi đo qua đường miệng
    • square icon Đau họng
    • square icon Mới ho không kiểm soát gây ra khó thở (cho học sinh bị dị ứng/ho hen mãn tính, thay đổi về tình trạng ho từ đường chuẩn)
    • square icon Tiêu chảy, nôn hoặc đau bụng
    • square icon Mới bắt đầu đau đầu dữ dội, đặc biệt là có kèm sốt

PHẦN 2: Tiếp Xúc Gần/Phơi Nhiễm Tiềm Ẩn

    • square icon Đã tiếp xúc gần (trong phạm vi 6 feet với người bị nhiễm trong ít nhất 15 phút) với người đã xác nhận nhiễm COVID-19
    • square icon Đã đi tới hoặc sống trong khu vực mà các sở y tế của Bộ lạc, lãnh thổ, hoặc tiểu bang có báo cáo về số lượng các ca nhiễm COVID-19 lớn như đã được mô tả trong Khung Giảm Thiểu Nguy Cơ Cộng Đồng
    • square icon Sống trong các khu vực có mức độ lây truyền cao (như đã mô tả trong Khung Giảm Thiểu Nguy Cơ) trong quá trình các trường học duy trì mở cửa

Chính Sách Quay Trở Lại Trường Học

Nếu học sinh/phụ huynh/người chăm sóc trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 1 nhưng trả lời KHÔNG cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 2, học sinh sẽ được miễn đến trường theo chính sách quản lý ốm đau hiện tại của nhà trường (ví dụ: cho đến khi hết triệu chứng sốt trong 24 giờ mà không dùng thuốc hạ sốt).

Nếu học sinh hoặc phụ huynh hay người chăm sóc trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 1 và trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 2, học sinh nên được chuyển đến gặp nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ để đánh giá và có thể cần phải thực hiện xét nghiệm. CDC khuyến khích mạnh mẽ các sở y tế địa phương phối hợp với các hệ thống trường học ở địa phương để phát triển chiến lược nhằm giới thiệu các cá nhân có triệu chứng đến nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc nơi xét nghiệm thích hợp. Nhân viên y tế tiểu bang, bộ lạc, vùng lãnh thổ và địa phương và/hoặc các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ xác định khi nào xét nghiệm vi-rút cho SARS-CoV-2 là thích hợp. Các trường học không nên yêu cầu kết quả xét nghiệm như là một phần của chính sách quay trở lại trường học. Học sinh đã nhận kết quả xét nghiệm âm tính nên được cho phép quay trở lại trường học khi thấy các triệu chứng của học sinh cải thiện theo các chính sách quản lý ốm đau hiện tại của trường.

Học sinh được chẩn đoán nhiễm COVID-19 hoặc trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 1 và Phần 2 mà không có kết quả xét nghiệm âm tính nên ở nhà, tự cách ly khỏi những người khác, theo dõi sức khỏe của mình và làm theo chỉ dẫn của sở y tế tiểu bang hoặc địa phương. Học sinh và gia đình nên được thông báo rằng sở y tế địa phương có thể liên lạc với gia đình để truy dấu tiếp xúc. Nếu sở y tế liên hệ, các gia đình nên thông báo cho người thực hiện truy dấu tiếp xúc rằng học sinh đã đến trường học.

Học sinh được chẩn đoán nhiễm COVID-19 hoặc trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 1 VÀ Phần 2 mà không có kết quả xét nghiệm âm tính chỉ nên được cho phép quay trở lại trường học theo hướng dẫn của CDC "Khi Nào Tôi Có Thể Ở Gần Người Khác". Không yêu cầu trình kết quả xét nghiệm âm tính hoặc giấy xác nhận của bác sĩ khi quay trở lại trường học. Các câu hỏi liên quan đến việc quay trở lại trường học nên được quyết định khi tham vấn ý kiến với phụ huynh hoặc người chăm sóc, nhân viên trong nhà trường và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của học sinh.

Học sinh bị loại trừ khỏi trường nên có cơ hội, càng sớm càng tốt khi học sinh đã khỏe mạnh, để tham gia vào các lớp học, bù đắp các bài học đã bỏ lỡ mà không bị phạt để giảm bớt lo lắng về tinh thần hoặc thể chất về các cơ hội học tập đã bỏ lỡ.

Phương Thức Cách Ly Tại Trường Học

Một số học sinh có thể phát triển các triệu chứng nhiễm bệnh trong quá trình học tập tại trường. Các trường học nên có biện pháp hành động để cách ly học sinh có biểu hiện các triệu chứng khỏi những học sinh và nhân viên khác.

  • Học sinh có bất kỳ triệu chứng nào nêu trong Phần 1 nên tuân theo chính sách quản lý ốm đau hiện tại của trường để giảm thiểu lây truyền cho người khác, tối ưu hóa cơ hội học tập và chữa khỏi các triệu chứng (tối thiểu 24 giờ không sử dụng thuốc hạ sốt hoặc tuân theo chính sách ốm đau hiện tại của nhà trường).
  • Học sinh có phát triển bất kỳ triệu chứng nào nêu trong Phần 1 trong quá trình học tập ở trường nên được cách ly trong khu vực tách biệt với nhân viên và các học sinh khác:
  • Học sinh được xác định tại trường phát triển bất kỳ triệu chứng nào nêu trong Phần 1 VÀ trả lời CÓ cho bất kỳ câu hỏi nào trong Phần 2 nên được cách ly trong khu vực tách biệt với nhân viên và các học sinh khác (ví dụ: văn phòng y tá) và sau đó đưa học sinh trở về nhà hoặc đến một cơ sở chăm sóc sức khỏe nếu thấy các triệu chứng cần phải được khám thêm:
    • Nếu trường học cần gọi xe cứu thương hoặc đưa học sinh đến bệnh viện, trước hết, nhà trường nên cảnh báo cho nhân viên y tế rằng học sinh có thể đã phơi nhiễm với người bị nhiễm COVID-19.
    • Sau khi học sinh được đưa vào khu vực cách ly, nhân viên trường học làm việc trong khu vực cách ly nên tuân theo Lưu Ý của CDC về Làm Sạch và Khử Trùng Tòa Nhà hoặc Cơ Sở của Quý Vị.
    • Lưu ý: Khi xây dựng kế hoạch đưa học sinh có triệu chứng vào khu vực cách ly, các trường học nên chú ý đến các biện pháp bảo vệ thích hợp để đảm bảo học sinh được cách ly mà không có mối đe dọa, trong tầm quan sát của người lớn và trong thời gian rất ngắn.

Tham Khảo

[1] Davies, N.G., Klepac, P., Liu, Y. et al. Age-dependent effects in the transmission and control of COVID-19 epidemics. Nat Med (2020). https://doi.org/10.1038/s41591-020-0962-9

[2] Assaker, Rita, Anne-Emmanuelle Colas, Florence Julien-Marsollier, Béatrice Bruneau, Lucile Marsac, Bruno Greff, Nathalie Tri, Charlotte Fait, Christopher Brasher, and Souhayl Dahmani. “Presenting symptoms of COVID-19 in children: a meta-analysis of published studies.” BJA: British Journal of Anaesthesia (2020). https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0007091220304086?via%3Dihub

[3] Dong, Yuanyuan, Xi Mo, Yabin Hu, Xin Qi, Fan Jiang, Zhongyi Jiang, and Shilu Tong. “Epidemiology of COVID-19 among children in China.” Pediatrics 145, no. 6 (2020). https://pediatrics.aappublications.org/content/145/6/e20200702

[4] Assaker, Rita, et al. “Presenting symptoms of COVID-19 in children: a meta-analysis of published studies.” BJA: British Journal of Anaesthesia (2020).

[5] Goldmann DA. Epidemiology and Prevention of Pediatric Viral Respiratory Infections in Health-Care Institutions. Emerg Infect Dis. 2001;7(2):249-253. https://dx.doi.org/10.3201/eid0702.700249

[6] Roland, Lauren T., Jose G. Gurrola, Patricia A. Loftus, Steven W. Cheung, and Jolie L. Chang. “Smell and taste symptom‐based predictive model for COVID‐19 diagnosis.” In International Forum of Allergy & Rhinology. 2020.

[7] Clemency, Brian M., Renoj Varughese, Danielle K. Scheafer, Brian Ludwig, Jacob V. Welch, Robert F. McCormack, Changxing Ma, Nan Nan, Theresa Giambra, and Thomas Raab. “Symptom Criteria for COVID‐19 Testing of Heath Care Workers.” Academic Emergency Medicine 27, no. 6 (2020): 469-474.

[8] Stokes EK, Zambrano LD, Anderson KN, et al. Coronavirus Disease 2019 Case Surveillance — United States, January 22–May 30, 2020. MMWR Morb Mortal Wkly Rep 2020;69:759–765. DOI: http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6924e2external iconexternal icon.

[9] Assaker, Rita, et al. “Presenting symptoms of COVID-19 in children: a meta-analysis of published studies.” BJA: British Journal of Anaesthesia (2020).

Cập nhật lần cuối ngày 23 tháng 7 năm 2020