Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Tầm quan trọng của việc mở cửa trở lại các trường học của Mỹ vào mùa thu này

Tầm quan trọng của việc mở cửa trở lại các trường học của Mỹ vào mùa thu này
Cập nhật ngày 23 tháng 7 năm 2020

Khi các gia đình và những nhà làm chính sách đưa ra quyết định về việc quay trở lại trường học cho con em mình, điều quan trọng là cần cân nhắc mọi lợi ích và nguy cơ của các lựa chọn học tập trực tiếp và trên mạng.   Các phụ huynh lo lắng về độ an toàn của con em họ tại trường học sau khi xảy ra COVID-19 là điều dễ hiểu.  Bằng chứng tốt nhất hiện có cho thấy nếu trẻ bị nhiễm bệnh, chúng sẽ hiếm khi gặp phải các triệu chứng nghiêm trọng.[1],[2],[3] Tỉ lệ tử vong trong số những trẻ em đang ở độ tuổi đến trường thấp hơn rất nhiều so với người trưởng thành.  Đồng thời những tác hại do các trường đóng cửa về sức khỏe hành vi, cảm xúc, xã hội và sức khỏe về kinh tế và thành tựu học thuật của trẻ cả về ngắn hạn và dài hạn đều có ý nghĩa quan trọng và được nhiều người biết đến.  Hơn nữa, việc thiếu các lựa chọn giáo dục trực tiếp gây tổn hại không đồng đều tới nhóm trẻ em trong các gia đình có thu nhập thấp và thuộc cộng đồng thiểu số cũng như những người bị khuyết tật.  Những đối tượng học sinh này khó có thể có khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc và hoạt động giáo dục tư và hiếm có khả năng dựa vào các nguồn lực chính được hỗ trợ của trường học như các chương trình thực phẩm, dịch vụ giáo dục đặc biệt, tư vấn và các chương trình ngoài giờ học nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển cơ bản.[4]

Ngoài ngôi nhà của trẻ, không có môi trường nào khác có tác động nhiều tới sức khỏe và niềm hạnh phúc của trẻ hơn trường học của chúng.  Môi trường của trường học trực tiếp thực hiện các hoạt động sau:

  • cung cấp hướng dẫn giảng dạy;
  • hỗ trợ phát triển các kỹ năng cảm xúc và xã hội;
  • tạo môi trường an toàn để học tập;
  • giải quyết các nhu cầu về dinh dưỡng; và
  • hỗ trợ hoạt động thể chất.

Tài liệu này thảo luận về từng chức năng quan trọng này, tiếp sau bản tóm tắt các nghiên cứu hiện thời về COVID-19 và trẻ em.

COVID-19 và trẻ em

Bằng chứng tốt nhất có sẵn cho thấy COVID-19  đặt ra các nguy cơ khá thấp cho trẻ em trong độ tuổi đến trường.  Trẻ em dường như có nguy cơ mắc COVID-19 thấp hơn so với người lớn.  Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), bắt đầu từ ngày 17 tháng 7, 2020, Hoa Kỳ đã báo cáo rằng trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chiếm dưới 7 phần trăm số ca bệnh COVID-19 và dưới 0,1 phần trăm ca tử vong liên quan tới COVID-19.[5]  Mặc dù khá hiếm nhưng tình trạng tử vong liên quan tới bệnh cúm ở trẻ em vẫn xảy ra hàng năm. Từ 2004-2005 đến 2018-2019, số ca tử vong liên quan tới bệnh cúm ở trẻ em đã báo cáo cho CDC trong mùa cúm thông thường dao động từ 37 đến 187 ca.  Trong đại dịch H1N1 (ngày 15 tháng 4, 2009 đến ngày 2 tháng 10, 2010), 358 ca tử vong là trẻ em được báo cáo cho CDC. Đến nay trong đại dịch này, số ca tử vong của trẻ em thấp hơn mỗi mùa trong năm mùa cúm gần đây, chỉ có 64 ca. Ngoài ra một số  trẻ có sẵn bệnh nền nhất định có nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19.*

Các nghiên cứu khoa học gợi ý rằng tình trạng lây truyền COVID-19 trong số trẻ em ở các trường học có thể thấp.  Các nghiên cứu quốc tế đã đánh giá mức độ lây lan COVID-19 tại các trường học cũng cho thấy tỉ lệ lây truyền thấp khi lây truyền trong cộng đồng ở mức thấp.  Dựa vào dữ liệu hiện có, tỉ lệ lây nhiễm trong số trẻ ở lớp nhỏ tuổi và từ học sinh sang giáo viên ở mức thấp, đặc biệt nếu có tuân thủ các biện pháp phòng ngừa thích hợp.  Cũng có một số báo cáo về trẻ em là nguồn chính lây truyền COVID-19 trong các thành viên gia đình.[6],[7],[8]  Dữ liệu này nhất quán với dữ liệu từ các xét nghiệm vi-rút và kháng thể, gợi ý rằng trẻ em không phải là yếu tố thúc đẩy lây lan COVID-19 chính tại các trường học hoặc trong cộng đồng.[9],[10],[11]  Không có nghiên cứu nào được kết luận nhưng dữ liệu có sẵn cung cấp lý do để tin rằng việc đi học trực tiếp tại trường mang lại lợi ích tốt nhất cho học sinh, đặc biệt là trong bối cảnh các biện pháp giảm thiểu thích hợp tương tự như các biện pháp được triển khai tại nơi làm việc trong lĩnh vực thiết yếu.

Hướng dẫn giảng dạy

Đóng cửa trường học kéo dài có thể gây hại cho trẻ em.  Điều này có thể dẫn tới tình trạng mất bài học nghiêm trọng và nhu cầu hướng dẫn trực tiếp đặc biệt quan trọng đối với các học sinh có nhu cầu hành vi cao.[12],[13]  Tiếp theo làn sóng đóng cửa trường học trong tháng 3 năm 2020 vì COVID-19, việc học tập bị chậm lại với hầu hết trẻ em và bị dừng lại với một số khác.   Khảo sát 477 khu học chánh của Trung tâm sáng tạo lại giáo dục công cộng, Đại học Washington phát hiện thấy rằng, "có quá nhiều trường học đang để chuyện học tập tùy theo số phận"[13]  chỉ một trong số ba trường quận kỳ vọng giáo viên cung cấp hướng dẫn, theo dõi sự tham gia của học sinh hoặc theo dõi tiến độ học tập cho tất cả các học sinh và các khu học chánh giàu có thường có gấp đôi khả năng có các kỳ vọng như vậy so với các quận có thu nhập thấp.[13]

Chúng tôi cũng biết rằng, đối với nhiều học sinh, nghỉ học trực tiếp dài ngày sẽ gây hại cho việc học tập của học sinh.  Ví dụ, ảnh hưởng của kỳ nghỉ hè không học tập trực tiếp đối với tiến trình học tập, còn gọi là "trượt dốc mùa hè" cũng đã được ghi trong tài liệu.  Theo Hiệp hội dánh giá Tây Bắc, trong mùa hè theo sau năm lớp ba, học sinh mất gần 20 phần trăm khả năng đọc trong năm học và 27 phần trăm về khả năng làm toán trong năm học.[14] Tính đến mùa hè sau năm lớp bảy, học sinh mất trung bình 39 phần trăm khả năng đọc trong năm học và 50 phần trăm khả năng làm toán trong năm học.[14]  Điều này cho thấy tình trạng rơi rụng kiến thức học tập lớn và thậm chí còn nghiêm trọng hơn khi học sinh càng học lớp càng cao trong trường học.  Triển vọng mất nhiều tháng đi học, so với vài tuần nghỉ hè do trường học đóng cửa chỉ có thể làm cho tình trạng rơi rụng kiến thức càng trở nên trầm trọng hơn.

Sự bất bình đẳng về kết quả giáo dục do trường học đóng cửa là mối quan ngại đặc biệt cho học sinh thuộc nhóm thiểu số và nhóm có thu nhập thấp cũng như học sinh khuyết tật.  Nhiều gia đình có thu nhập thấp không có khả năng hỗ trợ học từ xa (vd. hạn chế hoặc không có khả năng tiếp cận với máy tính, hạn chế hoặc không có khả năng tiếp cận với internet) và có thể phải dựa vào các dịch vụ tại trường hỗ trợ cho thành công học tập của con em họ.   Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Đại học Brown và Harvard đã đánh giá cách 800.000 học sinh sử dụng Zearn, một chương trình toán học trực tuyến cả trước và sau khi các trường học đóng cửa vào tháng 3 năm 2020.[15]  Dữ liệu đã cho thấy đến cuối tháng 4, mức độ tiến bộ của học sinh về môn toán giảm xuống khoảng một nửa, với tác động tiêu cực trầm trọng hơn trong khu vực mã zip có dân cư thu nhập thấp.[15]  Khoảng cách thành tích đã tồn tại dai dẳng từ trước khi xảy ra COVID-19, như sự bất bình đẳng giữa các chủng tộc và mức thu nhập có thể trầm trọng hơn gây ra tổn hại nghiêm trọng khó có thể khắc phục đối với kết quả học tập của trẻ em.[15],[16]  Cuối cùng, việc học tập từ xa  làm cho việc hấp thụ thông tin trở nên khó khăn hơn đối với học sinh khuyết tật, bị trì trệ về phát triển hoặc các khiếm khuyết về nhận thức khác.  Đặc biệt là các học sinh bị điếc, khiếm thính, bị mù và khiếm thị hoặc có các rối loạn học tập khác (vd. rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)) và các khiếm khuyến về thể chất và tâm thần khác gặp phải những khó khăn nghiêm trọng với hình thức học từ xa.[17]

Phát triển kỹ năng cảm xúc và xã hội

Các trường học đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ tổng thể cho trẻ em, không chỉ là thành tích học tập.  Ngoài cấu trúc học tập, các trường còn cung cấp môi trường ổn định và an toàn để học sinh phát triển các kỹ năng xã hội và mối quan hệ với bạn đồng trang lứa.   Các tương tác xã hội tại trường học trong số các trẻ em lớp PK-12 đặc biệt quan trong cho việc phát triển các kỹ năng về ngôn ngữ, giao tiếp, xã hội và cảm xúc.[18]

Việc các trường học đóng cửa kéo dài gây tổn hại tới sự phát triển các kỹ năng xã hội và cảm xúc của trẻ.   Các tương tác xã hội quan trọng hỗ trợ việc phát triển các kỹ năng thiết yếu về xã hội và cảm xúc bị cắt giảm hoặc hạn chế khi học sinh không có mặt trực tiếp tại trường học.   Trong môi trường trực tiếp tại trường học, trẻ em dễ dàng học cách phát triển và duy trì tình bạn, cách ứng xử trong nhóm và cách tương tác và hình thành các mối quan hệ với những người bên ngoài gia đình của chúng.   Tại trường học, học sinh cũng có thể tiếp cận các hệ thống hỗ trợ cần thiết để xác định và kiểm soát cảm xúc, thiết lập và đạt các mục tiêu tích cực, chấp nhận và hiểu giá trị quan điểm của người khác và đưa ra các quyết định có trách nhiệm.   Điều này giúp củng cố cảm nhận của học sinh về tính chất kết nối của trường học hoặc niềm tin của chúng rằng các giáo viên và những người lớn khác tại trường quan tâm tới chúng và hạnh phúc của chúng.   Những tiếp xúc trực tiếp thường kỳ như vậy mang đến cơ hội hỗ trợ phát triển cảm xúc-xã hội vốn rất khó, nếu không nói là không thể, để nhân rộng ra thông qua hình thức học từ xa.[18],[19],[20]

Ngoài ra, việc đóng cửa kéo dài có thể tổn hại tới sức khỏe tâm thần của trẻ và có thể làm gia tăng khả năng trẻ có các hành vi không lành mạnh.   Một môi trường nơi học sinh cảm thấy an toàn và kết nối chặt chẽ với nhau như trường học, có liên quan tới mức trầm cảm thấp hơn, các suy nghĩ về tự tử, lo lắng xã hội và hoạt động tình dục, cũng như có mức tự tôn cao hơn và sử dụng thời gian rảnh rỗi thích ứng hơn [19],[20]  Một nghiên cứu dài kỳ về 476 trẻ vị thành niên kéo dài hơn 3 năm bắt đầu từ năm lớp 6 cho thấy sự kết nối của trường học đặc biệt bảo vệ cho những trẻ có khả năng kết nối thấp hơn trong các lĩnh vực khác trong cuộc sống của chúng, như nhà riêng và giảm khả năng sử dụng chất gây nghiện.[20]  

Thêm nữa, đánh giá các nghiên cứu tiến hành trong đại dịch cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa độ dài của thời gian cách ly và các triệu chứng Rối loạn căng thẳng sau sang chấn, hành vi lảng tránh và sự giận dữ.   Một đánh giá khác được công bố trong năm nay phát hiện thấy rằng điểm số căng thẳng sau sang chấn của trẻ em và các phụ huynh khi bị cách ly cao gấp bốn lần so với những người không bị cách ly[21],[22]

Việc đi học trực tiếp tại trường mang đến cho trẻ em khả năng tiếp cận với nhiều dịch vụ xã hội và sức khỏe tâm thần, bao gồm trị liệu ngôn ngữ và vật lý trị liệu hoặc trị liệu nghề nghiệp hỗ trợ sức khỏe thể chất, tâm lý và học thuật của đứa trẻ[23], [24],[25],[26]  Ngoài ra các cố vấn tại trường học được đào tạo về các nhu cầu sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên, có thể nhận ra các dấu hiệu sang chấn mà người chăm sóc chính thường ít có khả năng nhận thấy vì chính bản thân họ cũng đang trải qua những căng thẳng gia đình tương tự.  Các cố vấn tại trường học có thể phối hợp với giáo viên để triển khai các biện pháp can thiệp nhằm cung cấp cho trẻ môi trường trấn an để lấy lại được cảm giác trật tự, sự an toàn và sự bình thường.

Không được đi học trực tiếp tại trường, nhiều trẻ có thể mất khả năng tiếp cận với các dịch vụ quan trọng này.  Ví dụ, chúng tôi biết rằng, ngay cả khi không tính tới bối cảnh trường học đóng cửa, trẻ em thường không nhận được điều trị về sức khỏe tâm thần mà chúng cần.   Trong số trẻ em trong độ tuổi 9-17, người ta dự đoán rằng có tới 21 phần trăm hay hơn 14 triệu trẻ em gặp phải một số loại bệnh tâm thần.[27]  Nhưng chỉ có khoảng 16 phần trăm trong số đó được tiếp nhận điều trị[23]  Trong số đó, có 70-80 phần trăm được tiếp nhận dịch vụ chăm sóc như vậy trong môi trường của trường học.[23]  Việc các trường học đóng cửa có thể gây tổn hại đặc biệt cho 7,4 triệu trẻ em Hoa Kỳ đang phải chịu đựng rối loạn cảm xúc nghiêm trọng.   Đối với những trẻ có vấn đề về cảm xúc, hành vi và tâm thần có thể chẩn đoán, gây ảnh hưởng lớn tới hoặc hạn chế các hoạt động xã hội của chúng, các trường học đóng vai trò tích hợp, nối kết chúng với các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ cần thiết.

Đối với những trẻ có khiếm khuyết về trí tuệ hoặc thể chất, gần như tất cả các dịch vụ và trị liệu mà chúng nhận được đều thông qua các trường học.  Những dịch vụ cốt yếu này khó có thể cung cấp qua các mô hình học từ xa.   Kết quả là sẽ có thêm nhiều trẻ khuyết tật được tiếp nhận ít hơn hoặc không tiếp nhận bất kỳ dịch vụ nào trong khi trường học đóng cửa.

Sự an toàn

Việc các trường học đóng cửa kéo dài sẽ tước đi của trẻ, những đối tượng đang sống trong các khu và nhà ở không an toàn, một lớp bảo vệ quan trọng tránh khỏi sự bỏ bê cũng như bị ngược đãi và lạm dụng tình dục, thể chất và cảm xúc.   Một báo cáo năm 2018 của Bộ Y tế và các Dịch vụ Dân sinh phát hiện thấy rằng các giáo viên và nhân viên giáo dục khác có liên đới tới hơn 1/5 số ca báo cáo về lạm dụng trẻ em, nhiều hơn bất kỳ danh mục báo cáo nào khác.[28]  Tuy nhiên, trong thời gian các trường học đóng cửa vì COVID-19, con số này cho thấy một sự sụt giảm lớn trong các báo cáo về các trường hợp nghi ngờ bị ngược đãi nhưng bi kịch thay lại có bằng chứng cho thấy số vụ lạm dụng tăng lên đáng kể khi trẻ em tới xin tư vấn các dịch vụ hỗ trợ.   Ví dụ, Cơ quan Dịch vụ trẻ em và gia đình của Thủ đô Washington đã ghi nhận giảm 62 phần trăm số cuộc gọi báo cáo lạm dụng trẻ em trong khoảng thời gian từ giữa tháng 3 đến tháng 4 năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019, nhưng thấy biểu hiện nhiều vụ lạm dụng trẻ em nghiêm trọng trong các phòng cấp cứu.[29]  Trẻ em sống ở nhà hoặc khu lân cận nơi xảy ra tình trạng bỏ bê, bạo lực hoặc lạm dụng, nhưng không có mặt tại trường học, bị tước quyền tiếp cận với các nhân viên qua đào tạo tại trường học, những người có thể dễ dàng xác định được các dấu hiệu sang chấn và cung cấp hướng dẫn và hỗ trợ cần thiết.[30],[31],[32],[33],[34]

Dinh dưỡng

Việc các trường học đóng cửa kéo dài có thể tổn hại tới sức khỏe dinh dưỡng của trẻ.  Các trường học đặc biệt quan tâm tới việc đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em với nhiều người trong số chúng tiêu tốn tới một nửa lượng ca-lo hàng ngày của chúng tại trường học.  Trên toàn quốc tới hơn 30 triệu trẻ em tham gia vào Chương trình quốc gia về bữa trưa tại trường học và gần 15 triệu tham gia Chương trình bữa sáng  tại trường học.[35],[36]  Đối với những trẻ em từ các gia đình thu nhập thấp, bữa ăn tại trường học là nguồn cung cấp đặc biệt quan trọng về thực phẩm lành mạnh với giá cả phải chăng.  Mặc dù các trường đã triển khai các chiến lược để tiếp tục các dich vụ bữa ăn trong suốt giai đoạn trường học đóng cửa, tuy nhiên rất khó để duy trì chương trình dinh dưỡng trường học này trong thời gian dài.  Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với khoảng 11 triệu trẻ em chưa được đảm bảo về thực phẩm hiện đang sống tại Hoa Kỳ.

Hoạt động thể chất

Khi các trường học đóng cửa, trẻ em không còn khả năng tiếp cận với các cơ hội quan trọng cho hoạt động thể chất.  Nhiều trẻ em có thể không hoạt động thể chất đủ ngoài giờ học thể dục tại trường học (PE) và các hoạt động khác tại trường.  Ngoài PE, khi các trường đóng cửa, trẻ em có thể không có đủ cơ hội tham gia và hoạt động thể chất an toàn và có tổ chức.  Chúng cũng mất cơ hội tiếp cận các hoạt động thể chất khác tại trường, bao gồm nghỉ giải lao, tham gia lớp học và các chương trình ngoài trường học.

Việc mất cơ hội với hoạt động thể chất do trường học đóng cửa, đặc biệt là khi đi kèm với vấn đề dinh dưỡng có khả năng bị giảm thiểu có thể đặc biệt tổn hại tới trẻ em.  Việc không hoạt động thể chất và dinh dưỡng kém trong bọn trẻ là các yếu tố nguy cơ chính gây ra bệnh béo phì và các tình trạng sức khỏe mãn tính khác ở trẻ em.  Trên 75 phần trăm trẻ em và thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ không đáp ứng các khuyến nghị về mức độ hoạt động thể chất hàng ngày (60 phút trở lên) và gần một nửa vượt 2 giờ mỗi ngày ngồi tại chỗ không vận động.  Các mô hình hiện tại dự đoán rằng tỉ lệ béo phì ở trẻ em có thể tăng tới 2,4 phần trăm nếu trường học tiếp tục đóng tới tháng 12 năm 2020.[37],[38],[39]

Kết luận

Các trường học là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng các cộng đồng của chúng tôi, khi chúng mang lại môi trường học tập an toàn và có tính hỗ trợ cho học sinh, gắn kết giáo viên và các nhân viên khác, đồng thời cho phép các phụ huynh, người giám hộ và người chăm sóc cùng làm việc.  Các trường học cũng cung cấp các dịch vụ thiết yếu giúp đáp ứng nhu cầu của trẻ em và các gia đình, đặc biệt là những người bị thiệt thòi, thông qua việc hỗ trợ phát triển các kỹ năng cảm xúc và xã hội, tạo ra môi trường an toàn để học tập, xác định và giải quyết tình trạng lạm dụng và bỏ bê, hoàn thành các nhu cầu về dinh dưỡng và hỗ trợ hoạt động thể chất.  Trường học đóng cửa làm gián đoạn việc triển khai dạy học trực tiếp và dịch vụ thiết yếu cho trẻ em và các gia đình, những thứ vốn có sự phân chia tiêu cực về cá nhân và tầng lớp xã hội.  Bằng chứng tốt nhất có sẵn từ các quốc gia có các trường học mở cửa chỉ ra rằng COVID-19 đặt ra các nguy cơ thấp đối với trẻ em trong độ tuổi tới trường và gợi ý rằng trẻ em khó có khả năng là nguồn lây lan vi-rút chính.  Việc tái mở cửa trường học tạo cơ hội đầu tư vào giáo dục, phúc lợi và tương lai của một trong những tài sản tuyệt vời nhất của Hoa Kỳ, đó là con em của chúng ta, trong khi thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để bảo vệ học sinh, giáo viên, nhân viên và toàn bộ các gia đình của họ.

*Một số trẻ em đã phát triển hội chứng viêm đa hệ thống (MIS-C) sau khi phơi nhiễm với SARS-CoV-2 (vi-rút gây ra COVID-19). (https://www.cdc.gov/mis-c/cases/index.html)  Tuy nhiên trong một nghiên cứu giám sát hướng đích đối với MIS-C có liên quan tới SARS-CoV-2, phần lớn trẻ em bị nhập viện vì MIS-C có liên quan tới COVID (70 phần trăm) đã phục hồi vào ngày cuối cùng của giai đoạn nghiên cứu. (Feldstein LR et al.. Hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ em và thanh thiếu niên Hoa Kỳ.​​​​​​​ N Engl J Med. 2020;10.1056/NEJMoa2021680)

Theo dõi dữ liệu COVID của CDC. Có tại https://www.cdc.gov/covid-data-tracker/. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.

Tham Khảo

  1. Zhen-Dong Y, Gao-Jun Z, Run-Ming J, et al. Clinical and transmission dynamics characteristics of 406 children with coronavirus disease 2019 in China: A review [published online ahead of print, 2020 Apr 28]. J Infect. 2020;S0163-4453(20)30241-3. doi:10.1016/j.jinf.2020.04.030
  2. Choi S-H, Kim HW, Kang J-M, et al. Epidemiology and clinical features of coronavirus disease 2019 in children. Clinical and experimental pediatrics 2020;63(4):125-32. doi: https://dx.doi.org/10.3345/cep.2020.00535external icon
  3. Coronavirus Disease 2019 in Children — United States, February 12–April 2, 2020. Morb Mortal Wkly Rep. 2020;69:422–426.
  4. Armitage R, Nellums LB. Considering inequalities in the school closure response to COVID-19. Lancet Glob Health. 2020;8(5):e644. doi:10.1016/S2214-109X(20)30116-9
  5. CDC COVID Data Tracker. Available at https://www.cdc.gov/covid-data-tracker/. Accessed on July 23, 2020.
  6. National-Centre-for-immunization-research-and-surveillance. COVID-19 in schools–the experience in NSW, April 26, 2020. Accessed 07/08/2020. Available at: http://ncirs.org.au/sites/default/files/2020-04/NCIRS%20NSW%20Schools%20COVID_Summary_FINAL%20public_26%20April%202020.pdf
  7. Ludvigsson JF. Children are unlikely to be the main drivers of the COVID-19 pandemic – A systematic review [published online ahead of print, 2020 May 19]. Acta Paediatr. 2020;10.1111/apa.15371. doi:10.1111/apa.15371
  8. Danis K, Epaulard O, Benet T, et al. Cluster of coronavirus disease 2019 (Covid-19) in the French Alps, 2020. Clinical infectious diseases : an official publication of the Infectious Diseases Society of America 2020 doi: https://dx.doi.org/10.1093/cid/ciaa424external icon
  9. World Health Organization (WHO). Report of the WHO-China Joint Mission on Coronavirus Disease 2019 (COVID-19). 16-24 February 2020. Accessed 07/10/2020. Available at: https://www.who.int/docs/default-source/coronaviruse/who-china-joint-mission-on-covid-19-final-report.pdf
  10. Children and COVID-19. National Institute for Public Health and the Environment, Ministry of Health, Welfare and Sport, The Netherlands. Accessed 07/08/2020. Available at: https://www.rivm.nl/en/novel-coronavirus-covid-19/children-and-covid-19
  11. Gudbjartsson DF, Helgason A, Jonsson H, et al. Spread of SARS-CoV-2 in the Icelandic Population. N Engl J Med. 2020;382(24):2302-2315. doi:10.1056/NEJMoa2006100
  12. Dorn E, Hancock B, Sarakatsannis J, Viruleg E. COVID-19 and student learning in the United States: the hurt could last a lifetime. Retrieved July 4, 2020, from https://www.mckinsey.com/industries/public-sector/our-insights/covid-19-and-student-learning-in-the-united-states-the-hurt-could-last-a-lifetime.
  13. Gross, Bethany (2020) Center for Reinventing Public Education. Too Many Schools leave Learning to Chance During the Pandemic. https://www.crpe.org/publications/too-many-schools-leave-learning-chance-during-pandemic Assessed on July 8, 2020.
  14. https://www.nwea.org/blog/2018/summer-learning-loss-what-we-know-what-were-learning/external icon
  15. Chetty, Friedman, Hendren, Stepner, and the Oportunity Insights Team. How Did COVID-19 and Stabilization Policies A↵ect Spending and Employment? A New Real-Time Economic Tracker Based on Private Sector Data. Opportunity Insights. June 17, 2020. https://opportunityinsights.org/wp-content/uploads/2020/05/tracker_paper.pdf
  16. Dorn E, Hancock B, Sarakatsannis J, Viruleg E. COVID-19 and student learning in the United States: the hurt could last a lifetime. Retrieved July 4, 2020, from https://www.mckinsey.com/industries/public-sector/our-insights/covid-19-and-student-learning-in-the-united-states-the-hurt-could-last-a-lifetime.
  17. S. Department of Education, Office of Elementary and Secondary Education, Consolidated State Performance Report, 2017–18. See Digest of Education Statistics 2019.
  18. Collaborative for Academic, Social, and Emotional Learning (CASEL). What is SEL? Website. https://casel.org/what-is-sel/external icon.
  19. Foster, C. E., Horwitz, A., Thomas, A., Opperman, K., Gipson, P., Burnside, A., Stone, D. M., & King, C. A. (2017). Connectedness to family, school, peers, and community in socially vulnerable adolescents. Children and youth services review, 81, 321–331. https://doi.org/10.1016/j.childyouth.2017.08.011
  20. Loukas A, Roalson LA, & Herrera DE (2010). School connectedness buffers the effects of negative family relations and poor effortful control on early adolescent conduct problems. Journal of Research on Adolescence, 20(1), 13–22
  21. Fegert JM, Vitiello B, Plener PL, and Clemens V. Challenges and Burden of the Coronavirus 2019 (COVID-19) Pandemic for Child and Adolescent Mental Health: A Narrative Review to Highlight Clinical and Research Needs in the Acute Phase and the Long Return to Normality. Child Adolesc Psychiatry Ment Health. 2020 May 12;14:20.
  22. Brooks SK, Webster RK, Smith LE, Woodland L, Wessely S, Greenberg N, et al. The psychological impact of quarantine and how to reduce it: rapid review of the evidence. 2020;395(10227):912–920. doi: 10.1016/S0140-6736(20)30460-8.
  23. Burns BJ, Costello EJ, Angold A, Tweed D et al. Children’s Mental Health Service Use Across Service Sectors, Health Affairs, Vol. 14, No. 3, 1995: 149-159.
  24. Return to School During COVID-19, American Academy of Pediatrics, Healthy Children website: https://www.healthychildren.org/English/health-issues/conditions/COVID-19/Pages/Return-to-School-During-COVID-19.aspx, Last updated 7/8/2020.
  25. Constantino J, Sahin M, Piven J, Rodgers R, and Tschida J. The Impact of COVID-19 on Individuals with Intellectual and Developmental Disabilities: Clinical and Scientific Priorities. Am J Psychiatry, submitted.
  26. Turk MA, Landes SD, Formica MK, and Goss KD: Intellectual and developmental disability and COVID-19 case-fatality trends: TriNetX analysis. Disability and Health Journal. 2020 May 22; [e-pub ahead of print] doi.org/10.1016/j.dhjo.2020.100942.
  27. US DHHS. Mental Health: A Report of the Surgeon General, Executive Summary. Rockville, MD: U.S. Department of Health and Human Services, Substance Abuse and Mental Health Services Administration, Center for Mental Health Services, NIH, NIMH, 1999.
  28. Department of Health and Human Services (2018) Child Maltreatment 2018 https://www.acf.hhs.gov/sites/default/files/cb/cm2018.pdfpdf iconexternal icon
  29. WUSA (2020) Child abuse is likely going to underreported during the coronavirus pandemic. Here’s what you can do to help. https://www.wusa9.com/article/news/health/coronavirus/child-abuse-going-underreported-due-to-coronavirus-schools-being-out-maryland-dc-virginia/65-a04a5ecb-b91f-4f11-9421-56cf46972a89external icon Assessed on July 8, 2020.
  30. Baron, E. Jason and Goldstein, Ezra G. and Wallace, Cullen, Suffering in Silence: How COVID-19 School Closures Inhibit the Reporting of Child Maltreatment (May 14, 2020). Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3601399external icon or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3601399 external icon
  31. Child Welfare Information Gateway. (2019.) Child maltreatment 2017: Summary of key findings. Washington, DC: U.S. Department of Health and Human Services, Administration for Children and Families, Children’s Bureau.
  32. Campbell, A. (2020). An increasing risk of family violence during the Covid-19 pandemic: Strengthening community collaborations to save lives.  Forensic Science International: Reports, 2020 Apr 12. doi: 10.1016/j.fsir.2020.100089
  33. https://pediatrics.aappublications.org/content/pediatrics/125/5/1094.full.pdfpdf iconexternal icon
  34. https://www.acf.hhs.gov/sites/default/files/cb/cm2017.pdfpdf iconexternal icon
  35. https://www.ers.usda.gov/topics/food-nutrition-assistance/child-nutrition-programs/national-school-lunch-program/external icon
  36. https://www.ers.usda.gov/topics/food-nutrition-assistance/child-nutrition-programs/school-breakfast-program/external icon
  37. Terry-McElrath, Y. M., O’Malley, P. M., & Johnston, L. D. (2015). Foods and beverages offered in US public secondary schools through the National School Lunch Program from 2011 – 2013: early evidence of improved nutrition and reduced disparities. Preventive Medicine, 78, 52-58.
  38. Johnson, D. B., Podrabsky, M., Rocha, A., & Otten, J. J. (2016). Effect of the Healthy Hunger-Free Kids Act on the nutritional quality of meals selected by students and school lunch participation rates. JAMA Pediatrics, 170(1), e15391.
  39. An, R. “Projecting the impact of the coronavirus disease-19 pandemic on childhood obesity in the United States: A microsimulation model. Science. 2020
Cập nhật lần cuối ngày 23 tháng 7 năm 2020