Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Chiến Lược Hoạt Động Cho Các Trường Học K-12 Trong Quá Trình Giảm Thiểu Rủi Ro Theo Giai Đoạn

Chiến Lược Hoạt Động Cho Các Trường Học K-12 Trong Quá Trình Giảm Thiểu Rủi Ro Theo Giai Đoạn
Cập nhật ngày 24 tháng 2 năm 2021
In

Tóm Tắt các Thay Đổi Gần Đây

Tính đến ngày 24 tháng 2, 2021

  • Đã khắc phục siêu liên kết bị lỗi trong hướng dẫn

Tóm tắt điều hành

Khi các cộng đồng lập kế hoạch tiến hành giảng dạy trực tiếp an toàn trong các trường K-12, họ phải quyết định khi nàotrong điều kiện nào giúp bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên và làm chậm sự lây lan của SARS-CoV-2, vi-rút gây bệnh COVID-19. Các trường cần phải được mở cửa an toàn và sớm nhất có thể và duy trì mở cửa, để đạt được lợi ích của việc học tập trực tiếp và các dịch vụ hỗ trợ quan trọng. Để cho phép các trường mở cửa an toàn và tiếp tục mở cửa, điều quan trọng là cần áp dụng và triển khai nhất quán các hành động làm chậm quá trình lây lan SARS-CoV-2 cả ở trường học và trong cộng đồng. Điều này có nghĩa là tất cả thành viên cộng đồng, học sinh, gia đình, giáo viên và nhân viên trường học phải thực hiện các hành động để bảo vệ bản thân và người khác ở nơi họ sống, làm việc, học tập và vui chơi. Hay nói ngắn gọn, thành công trong việc ngăn chặn sự xâm nhập và lây truyền vi-rút SARS-CoV-2 theo đó trong môi trường học đường có liên quan và lệ thuộc vào việc ngăn chặn sự lây truyền trong các cộng đồng rộng lớn hơn.

Chiến lược hoạt động này đưa ra các khuyến nghị dựa vào bằng chứng có sẵn tốt nhất vào thời điểm công bố. Khi kiến thức khoa học và dữ liệu về COVID-19 vẫn tiếp tục tiến triển, hướng dẫn và khuyến nghị sẽ được cập nhật để thể hiện bằng chứng mới. Tài liệu này dùng để bổ sung cho hướng dẫn, công cụ và nguồn lực cho các trường học K-12 của CDC, bao gồm hướng dẫn điều hành trường học trong đại dịch COVID-19tổng quan về xét nghiệm SARS-CoV-2 (COVID-19). Tài liệu này dùng để bổ sung cho Sổ tay về các chiến lược giúp tái mở cửa an toàn các trường tiểu học và trung học cơ sởpdf iconexternal icon. Nó thể hiện bằng chứng về COVID-19 trong đối tượng trẻ em và trẻ vị thành niên và những gì đã biết về tình trạng lây truyền SARS-CoV-2 tại các trường học, được tóm tắt trong Tóm tắt khoa học về tình trạng lây truyền SARS-CoV-2 tại các trường học K-12 của CDC. Chiến lược hoạt động này mô tả lộ trình mở cửa lại trưởng học và giúp họ duy trì mở cửa thông qua việc liên tục sử dụng các chiến lược giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là sử dụng phổ biến và đúng cách khẩu trang và giãn cách xã hội.

Bằng chứng cho thấy nhiều trường học K-12 đã triển khai nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu đã có thể tái hoạt động an toàn việc giảng dạy trực tiếp và tiếp tục mở cửa. 1 Tài liệu này cung cấp chiến lược vận hành nhằm hỗ trợ các trường học K-12 trong việc tái vận hành hoạt động giảng dạy trực tiếp và tiếp tục mở cửa thông qua một loạt các hoạt động giảm thiểu tích hợp. Những yếu tố quan trọng này bao gồm:

  1. Việc triển khai nhất quán các chiến lược giảm thiểu theo lớp nhằm giảm lây truyền SARS-CoV-2 trong môi trường học đường
  2. Các chỉ báo về lây truyền cộng đồng để thể hiện mức nguy cơ trong cộng đồng
  3. Các mô hình học tập và giảm thiểu theo giai đoạn dựa vào mức lây truyền trong cộng đồng

Các nỗ lực y tế công sau đây cung cấp các lớp bổ sung để ngăn chặn COVID-19 trong trường học:

  • Xét nghiệm để xác định các cá nhân nhiễm SARS-CoV-2 để hạn chế lây truyền và bùng phát dịch
  • Tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên trường học và trong các cộng đồng ngay khi nguồn cung cho phép

Các Vấn Đề Cần Cân Nhắc về Công Bằng Y Tế

Việc không có các lựa chọn giáo dục trực tiếp có thể gây bất lợi cho học sinh từ các cộng đồng bị thiếu hụt, có thể bao gồm đại diện rộng lớn của các nhóm chủng tốc và dân tộc thiểu số, người học tiếng Anh và học sinh bị khuyết tật. Các kế hoạch để thực hiện an toàn việc giảng dạy trực tiếp tại các trường học K-12 phải cân nhắc các nỗ lực thúc đẩy việc tiếp cận công bằng với các môi trường học tập lành mạnh cho học sinh và nhân viên. Vì vậy các thành tố quan trọng của những kế hoạch tái mở cửa trường học nên tính đến các cộng đồng và nhóm bị ảnh hưởng không tương xứng từ việc lây nhiễm COVID-19 và các hệ quả nghiêm trọng. Các trường học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự công bằng trong hoạt động giáo dục và y tế cho các nhóm bị ảnh hưởng không tương xứng bởi COVID-19.

Các yếu tố quan trọng để vận hành an toàn việc giảng dạy trực tiếp tại trường học K-12

  1. Các chiến lược giảm thiểu nhằm giảm lây truyền SARS-CoV-2 trong môi trường học đường

Bất kể mức độ lây truyền cộng đồng như thế nào, tất cả các trường học nên dùng và tạo lớp các chiến lược giảm thiểu. Năm chiến lược giảm thiểu chính đặc biệt quan trọng để triển khai an toàn hoạt động giảng dạy trực tiếp và giúp giảm thiểu lây truyền COVID-19 trong trường học:

Các trường cung cấp giảng dạy trực tiếp nên ưu tiên hai chiến lược giảm thiểu:

  1. Cần phải sử dụng liên tục và chính xác khẩu trang tại tất cả các mức độ lây truyền trong cộng đồng. Tất cả học sinh, giáo viên và nhân viên cần sử dụng liên tục và chính xác khẩu trang để ngăn chặn lây truyền qua giọt bắn từ đường hô hấp đối với SARS-CoV-2.
  2. Việc giãn cách xã hội (tối thiểu 6 feet)  nên được tăng tối đa hết sức có thể. Để đảm bảo giãn cách xã hội, các trường nên thiết lập các chính sách và triển khai các biện pháp can thiệp mang tính cấu trúc để khuyến khích giãn cách xã hội tối thiểu 6 feet giữa mọi người. Tạo đoàn hệ hoặc tạo nhóm được khuyến nghị nhằm giảm thiểu phơi nhiễm trong môi trường học đường.

Tất cả các chiến lược giảm thiểu cung cấp một số mức bảo vệ và các chiến lược theo lớp được triển khai đồng thời cung cấp mức bảo vệ lớn nhất. Bộ công cụ giảm thiểu COVID-19 tại các trường K-12pdf icon của CDC bao gồm các nguồn thông tin, công cụ và danh sách kiểm tra giúp các nhà quản lý trường học và viên chức trường học chuẩn bị để triển khai giảng dạy trực tiếp. Các nguồn thông tin và công cụ này bao gồm các khía cạnh để đề cập những vấn đề cần lưu ý về công bằng y tế như quy mô lớp học, kết nối internet, tiếp cận giao thông công cộng và các chủ đề khác.

  1. Các chỉ báo về lây truyền trong cộng đồng

Các nhà quản lý trường học, làm việc với nhân viên y tế công cộng địa phương nên đánh giá mức nguy cơ trong cộng đồng vì nguy cơ xuất hiện ca bệnh tại môi trường học đường phụ thuộc vào mức độ lây truyền trong cộng đồng. CDC khuyến nghị sử dụng hai đại lượng đo lường gánh nặng trong cộng đồng để xác định mức nguy cơ lây truyền: tổng số ca bệnh mới trên 100.000 người trong 7 ngày qua; và tỉ lệ phần trăm kết quả xét nghiệm khuếch đại axít nucleic (NAAT) là dương tính trong 7 ngày qua. Hai đại lượng đo lường gánh nặng cộng đồng nên được sử dụng để đánh giá tỷ lệ mắc mới và lây lan SARS-CoV-2 trong cộng đồng xung quanh (VD: quận). Mức lây truyền cho bất kỳ địa điểm cho trước nào sẽ thay đổi theo thời gian và nên được đánh giá lại hàng tuần để nhận biết tình hình và liên tục cung cấp thông tin cho hoạt động lên kế hoạch.

Dù nguy cơ phơi nhiễm với SARS-CoV-2 tại trường học có thể thấp hơn khi chỉ báo về lây lan trong cộng đồng thấp hơn, nguy cơ này cũng sẽ phụ thuộc vào việc triển khai các chiến lược giảm thiểu trong trường học và cộng đồng. Nếu mức lây truyền cộng đồng thấp nhưng các chiến lược giảm thiểu cộng đồng và nhà trường không được triển khai hoặc triển khai không nhất quán thì nguy cơ phơi nhiễm và tình trạng lây truyền SARS-CoV-2 trong trường học sau đó sẽ tăng lên. Mặt khác, nếu mức độ lây truyền cộng đồng cao nhưng các chiến lược giảm thiểu trong trường học và cộng đồng được triển khai và tuân thủ nghiêm ngặt theo khuyến cáo, thì nguy cơ lây truyền sau đó của SARS-CoV-2 trong trường học sẽ giảm đi.

  1. Các chế độ học tập, xét nghiệm và giảm thiểu theo giai đoạn

Ở bất kỳ mức độ lây truyền cộng đồng nào, tất cả các trường học có lựa chọn để cung cấp hoạt động giảng dạy trực tiếp (đầy đủ hoặc kết hợp), thông qua việc tuân thủ nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu1. Các chế độ học khuyến nghị khác nhau để giảm thiểu nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 tại trường học bằng cách nhấn mạnh vào việc giảm thiểu theo lớp, bao gồm các chính sách của trường học yêu cầu việc sử dụng khẩu trang liên tục và đúng cách. Các chế độ học tập khuyến nghị (trực tiếp, kết hợp, qua mạng) phụ thuộc vào mức độ lây truyền cộng đồng và việc tuân thủ nghiêm ngặt việc giảm thiểu.

Tài liệu này đưa ra kế hoạch vận hành cho các trường học nhấn mạnh việc giảm thiểu ở tất cả các cấp độ lây truyền cộng đồng.

  • Các trường học K-12 nên là các cơ sở cuối cùng phải đóng cửa sau khi tất cả biện pháp giảm thiểu rủi ro khác trong cộng đồng đã được triển khai và là các cơ sở đầu tiên được mở cửa khi có thể mở cửa an toàn. Các trường học nên được ưu tiên mở cửa trở lại và duy trì mở cửa để tiến hành giảng dạy trực tiếp thay vì các hoạt động và cơ sở kinh doanh không cần thiết.
  • Giảng dạy trực tiếp nên được ưu tiên so với các hoạt động ngoại khóa bao gồm các sự kiện thể thao và trường học để giảm thiểu nguy cơ lây truyền tại trường học và bảo vệ hoạt động học tập trực tiếp.
  • Tỉ lệ mắc mới COVID-19 thấp hơn trong số trẻ nhỏ tuổi hơn so với trẻ vị thành niên2 gợi ý rằng các học sinh nhỏ tuổi hơn (ví dụ, học sinh trường tiểu học) có thể có nguy cơ lây truyền trong trường học do học tập trực tiếp ít hơn so nhóm học sinh lớn hơn (trường trung học cơ sở và trung học phổ thông).
  • Các gia đình học sinh thuộc nhóm nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng (bao gồm những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt) hoặc những người sống với người thuộc nhóm có nguy cơ cao nên được trao cho lựa chọn hướng dẫn qua mạng bất kể chế độ học tập được cung cấp là gì.
  • Các trường được khuyến khích sử dụng việc tạo đoàn hệ hoặc tạo nhóm học sinh, đặc biệt là ở mức độ trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và cao (màu đỏ) để hỗ trợ việc xét nghiệm và truy dấu tiếp xúc, đồng thời giảm thiểu việc lây truyền giữa các nhóm.
  • Các trường phục vụ nhóm dân cư có nguy cơ mất bài học trong khi giảng dạy qua mạng nên được ưu tiên để tái mở cửa và được cung cấp đủ nguồn lực để triển khai biện pháp giảm thiểu.
  • Khi triển khai hoạt động giảm thiểu theo giai đoạn trong các chế độ học tập kết hợp, các trường nên cân nhắc việc ưu tiên giảng dạy trực tiếp cho học sinh khuyết tật, những người có thể yêu cầu giáo dục đặc biệt và các dịch vụ liên quan được cung cấp trực tiếp trong môi trường học đường, cũng như các học sinh khác, những người có thể hưởng lợi từ việc tiếp nhận giảng dạy quan trọng trong môi trường học đường.

Những quyết định này nên dựa trên các yếu tố cụ thể của trường học, ví dụ như những chiến lược giảm thiểu rủi ro được triển khai, nhu cầu của địa phương, ý kiến của bên liên quan, số lượng ca bệnh trong số các học sinh, giáo viên và nhân viên, cũng như tình hình trường học với việc tái mở cửa an toàn. Quyết định duy trì mở cửa nên dựa trên các cân nhắc về củng cố hơn nữa các chiến lược giảm thiểu rủi ro và tiếp tục giám sát tỉ lệ mắc mới để đánh giá lại quyết định.

Bất kể việc lên kế hoạch cẩn trọng và triển khai nhất quán hoạt động giảm thiểu, một số tình huống vẫn có thể xảy ra, dẫn tới việc các viên chức trường học cần cân nhắc việc tạm thời đóng cửa trường học hoặc một phần trường học (như lớp học hoặc cấp học nào đó) đối với hoạt động giảng dạy trực tiếp. Những quyết định này nên dược đưa ra dựa trên những cân nhắc cẩn trọng về một số yếu tố kèm việc nhấn mạnh để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của học sinh, gia đình học sinh, giáo viên và nhân viên. Những tình huống như vậy có thể bao gồm các lớp học hoặc trường học gặp phải tình trạng bùng phát dịch và các trường trong khu vực thấy tỉ lệ mắc mới tăng nhanh hoặc liên tục hoặc đặt gánh nặng nghiêm trọng lên năng lực của ngành y tế.

Nhiều biến thể SARS-CoV-2 đang lưu hành trên toàn cầu. Những biến thể này dường như lây lan dễ dàng hơn và nhanh hơn các biến thể khác, có thể dẫn tới có thêm nhiều ca bệnh COVID-19. Việc triển khai nghiêm ngặt và tuân thủ các chiến lược giảm thiểu là yếu tố then chốt giúp kiểm soát việc lây lan các biến thể SARS-CoV-2. Khi có thêm thông tin, có thể mức lây truyền cộng đồng gia tăng vì biến thể SARS-CoV-2, các chiến lược giảm thiểu và hướng dẫn trường học có thể cần được cập nhật để tính đến bằng chứng mới về nguy cơ lây truyền và tính hiệu quả của việc giảm thiểu.

Ngăn ngừa COVID-19 bổ sung tại các trường học

Xét Nghiệm

Khi các trường học triển khai xét nghiệm kết hợp với chiến lược giảm thiểu chính, họ có thể phát hiện các ca bệnh mới để ngăn chặn bùng phát dịch, giảm nguy cơ lây truyền thêm và bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên khỏi COVID-19.

Xét Nghiệm Chẩn Đoán

Ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng, các trường học nên cung cấp giấy giới thiệu tới dịch vụ xét nghiệm chẩn đoán cho bất kỳ học sinh, giáo viên hoặc nhân viên nào có xuất hiện các triệu chứng của COVID-19 tại trường học. Các trường học nên khuyên giáo viên, nhân viên và học sinh ở nhà nếu họ bị bệnh hoặc nếu họ có phơi nhiễm với SARS-CoV-2 và giới thiệu những người này đi xét nghiệm. Họ cũng nên giới thiệu đi xét nghiệm cho những cá nhân không có triệu chứng đã phơi nhiễm tới bất kỳ ai đã xác nhận hoặc nghi nhiễm COVID-19. Trong một số trường học, các chuyên viên chăm sóc sức khỏe tại trường học (vd. y tá trường học) có thể thực hiện xét nghiệm chẩn đoán SARS-CoV-2 (bao gồm xét nghiệm kháng thế và xét nghiệm nhanh tại điểm chăm sóc) nếu họ được đào tạo trong việc thu thập mẫu xét nghiệm và có chứng nhận miễn trừexternal icon theo Bản sửa đổi cải thiện phòng thí nghiệm lâm sàng (CLIA). Điều quan trọng là các chuyên viên chăm sóc sức khỏe tại trường học có thể tiếp cận và được đào tạo về cách sử dụng phù hợptrang bị bảo hộ cá nhân (PPE). Nếu chẩn đoán COVID-19 được xác nhận, các trường học có thể hỗ trợ nhân viên y tế công trong việc xác định đối tượng tiếp xúc gần nào có thể được xét nghiệm và nên cách ly hoặc cô lập. Các cá nhân nên cách ly hoặc cô lập tại nhà, không trong môi trường học đường và nên ở nhà đến khi an toàn để họ ở gần bên người khác.

Xét nghiệm sàng lọc

Một số trường học cũng có thể chọn dùng xét nghiệm sàng lọc như chiến lược xác định các ca bệnh và ngăn chặn lây truyền thứ cấp. Xết nghiệm sàng lọc có thể dùng làm lớp giảm thiểu bổ sung để bổ trợ cho các chiến lược giảm thiểu trong trường học. Xét nghiệm sàng lọc dùng để xác định các cá nhân nhiễm bệnh mà không có các triệu chứng (hoặc trước khi bộc lộ các triệu chứng), những người có thể truyền nhiễm vì vậy có thể thực hiện các biện pháp để ngăn chặn lây truyền thêm. Đối với các trường triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng, việc xét nghiệm sàng lọc nên được cung cấp tại những nơi có mức độ lây truyền cộng đồng ở mức trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và cao (màu đỏ) cho học sinh, giáo viên và nhân viên, ở mức thấp (màu xanh) cho giáo viên và nhân viên không có triệu chứng và không bị phơi nhiễm đã biết. Những điều cần lưu ý bổ sung để triển khai xét nghiệm sàng lọc:

  • Khi xác định những cá nhân nào nên được chọn để xét nghiệm sàng lọc, các trường học và nhân viên y tế công cộng có thể cân nhắc ưu tiên giáo viên và nhân viên so với học sinh vì người lớn có nguy cơ gặp hệ quả bệnh nghiêm trọng cao hơn. Khi lựa chọn học sinh, các trường học và nhân viên y tế công có thể chọn ưu tiên học sinh trung học phổ thông, tiếp theo là học sinh trường trung học cơ sở, rồi mới đến học sinh trường tiểu học, khi có thể.
  • Nhân viên y tế công cộng và các nhà quản lý trường học có thể cân nhắc ưu tiên cao hơn việc tiếp cận xét nghiệm tại trường học phục vụ nhóm học sinh gặp phải các gánh nặng không tương xứng về các ca bệnh COVID-19 hay bệnh nghiêm trọng. Có thể bao gồm các trường học trong cộng đồng có tỉ lệ các nhóm chủng tộc và dân tộc ở mức trung bình hoặc lớn có thể có tỉ lệ cao không tương xứng các ca bệnh COVID-19 tương ứng với quy mô dân số và các trường học tại khu vực địa lý có khả năng tiếp cận hạn chế với dịch vụ xét nghiệm do khoảng cách hoặc thiếu dịch vụ xét nghiệm.
  • Mọi cơ sở xét nghiệm COVID-19 được yêu cầu báo cáo với tiểu bang hoặc nhân viên y tế địa phương về mọi xét nghiệm đã thực hiện. Các trường có sử dụng xét nghiệm phải nộp đơn và nhận chứng nhận miễn trừ của a Tiêu chuẩn sửa đổi cải tiến phòng thí nghiệm lâm sàng (CLIA) external icon. Các trường phải báo cáo kết quả xét nghiệm cho các sở y tế công cộng địa phương hoặc tiểu bang như quy định bắt buộc của Đạo luật về viện trợ, cứu trợ và an ninh kinh tế (CARES) liên quan tới vi-rút Corona.
  • Xét nghiệm nên được cung cấp trên cơ sở tự nguyện. Bắt buộc phải có sự đồng ý từ phụ huynh hoặc người giám hộ hợp pháp (cho học sinh vị thành niên) hoặc từ những cá nhân (đối với người lớn, bao gồm học sinh là người trưởng thành, giáo viên và nhân viên) đối với xét nghiệm tại trường học.

Tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên cũng như trong các cộng đồng ngay khi nguồn cung cho phép

Giáo viên và nhân viên trường học đảm nhiệm công viện quan trọng để xã hội có thể tiếp tục vận hành bình thường và có khả năng chịu nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp đối với SARS-CoV-2. Viên chức của tiểu bang, vùng lãnh thổ và bộ lạc (STLT) nên cân nhắc ưu tiên cao cho giáo viên ở các giai đoạn phân phối vắc-xin sớm. Ủy ban tư vấn về quy trình phòng ngừa miễn dịch (ACIP) khuyến nghị rằng các nhân viên trong lĩnh vực thiết yếu ở tuyến đầu bao gồm những người làm việc trong lĩnh vực giáo dục (giáo viên và nhân viên trường học), được ưu tiên cho việc phân bổ vắc-xin trong giai doạn 1b, tiếp theo là nhân viên chăm sóc sức khỏe và cư dân thuộc cơ sở chăm sóc dài hạn (giai đoạn 1a). Việc tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên trường học có thể được coi là một lớp giảm thiểu và bảo vệ cho nhân viên và học sinh. Các chiến lược giảm thiểu rào cản việc tiếp cận tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên thuộc lĩnh vực thiết yếu tuyến đầu, như phòng khám tiêm vắc-xin tại hoặc gần địa điểm làm việc là tối ưu. Không nên coi khả năng tiếp cận tiêm chủng là một điều kiện để tái mở cửa trường học để giảng dạy trực tiếp. Ngay cả sau khi giáo viên và nhân viên được tiêm chủng, các trường cần tiếp tục các biện pháp giảm thiểu cho tương lai gần, bao gồm yêu cầu đeo khẩu trang tại các trường học và giãn cách xã hội.

Bối Cảnh

Trường học là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của cộng đồng, vì nơi đây cung cấp môi trường học tập an toàn, hỗ trợ cho học sinh, là nơi làm việc của giáo viên và nhân viên, và giúp phụ huynh, người giám hộ và người chăm sóc có thể tiếp tục làm việc. Các trường cũng giúp giảm thiểu sự bất bình đẳng y tế bằng cách cung cấp các dịch vụ quan trọng gồm chương trình bữa ăn học đường và dịch vụ sức khỏe xã hội, thể chất, hành vi và tâm thần. Nhiều học sinh không có cơ hội hoặc gặp phải những gián đoạn trong các dịch vụ này do trường học đóng cửa và học tập qua mạng và kết hợp. Biến cố nhiễm SARS-CoV-2 tại trường học thể hiện tình hình lây truyền trong cộng đồng xung quanh.1 Khi ra quyết định vào thời điểm mở cửa hoặc tái mở cửa trường học để học tập trực tiếp, điều quan trọng là phải hiểu rõ tình hình lây truyền SARS-CoV-2 trong cộng đồng xung quanh để xác định nguy cơ xâm nhập và lây truyền SARS-CoV-2 trong trường học.

Có bằng chứng cho thấy rằng việc trực tiếp tham gia học tại trường K-12 chính là yếu tố thúc đẩy chính đối với lây truyền cộng đồng2-5. Dù trẻ em có thể bị nhiễm SARS-CoV-2, có thể bị bệnh vì COVID-19 và có thể lây lan vi-rút cho người khác3,6-7, bằng chứng chỉ ra rằng trẻ em ít bị bệnh hơn người lớn và có thể ít lây nhiễm hơn8-9. Ngoài ra, trẻ em ít có khả năng mắc bệnh nghiêm trọng hoặc tử vong hơn người lớn và có nhiều khả năng không có triệu chứng hơn10-12. Bằng chứng từ các nghiên cứu có sẵn cho thấy rằng nguy cơ xâm nhập và lây truyền SARS-CoV-2 trong trẻ em thuộc độ tuổi học tiểu học có thể thấp hơn so với việc tái mở cửa các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông  1,3,9,13. Kết quả là bằng chứng cho thấy cần điều chỉnh các chiến lược giảm thiểu dựa vào khả năng dễ bị bệnh và lây nhiễm cao hơn trong thanh thiếu niên so với trẻ nhỏ tuổi hơn. Dữ liệu cho thấy rằng có khả năng các cộng đồng giảm ca bệnh COVID-19 trong khi vẫn duy trì mở cửa trường học với hoạt động giảng dạy trực tiếp2. Dữ liệu cho thấy rằng có khả năng các cộng đồng giảm ca bệnh COVID-14 trong khi vẫn duy trì mở cửa trường học với hoạt động giảng dạy trực tiếp18. Tóm tắt thông tin khoa học về lây truyền SARS-CoV-2 tại các trường học K-12 Schools của CDC tóm tắt bằng chứng về COVID-19 trong trẻ em và trẻ vị thành niên và những điều đã biết về lây truyền SARS-CoV-2 tại trường học.

Các trải nghiệm trong nước và quốc tế đã thể hiện rằng dù khi trường học cẩn trọng điều phối, lên kế hoạch và chuẩn bị để triển khai giảng dạy trực tiếp, các ca bệnh COVID-19 vẫn có thể xảy ra14,19. Việc dự kiến và lên kế hoạch về biến cố của một hoặc nhiều ca COVID-19 tại trường học có thể giúp các trường ứng phó ngay lập tức để giảm thiểu tác động, giảm thiểu lây lan trong trường học và cho phép trường học duy trì mở cửa để học tập trực tiếp. Khi các chiến lược giảm thiểu được sử dụng nhất quán và đúng cách, nguy cơ lây lan trong môi trường học đường sẽ giảm xuống1,14,17. Để các trường triển khai học tập trực tiếp an toàn, quý vị cũng cần cân nhắc mức độ lây truyền cộng đồng và nguy cơ lây truyền trong trường học. Các cộng đồng đã triển khai đầy đủ và tuân thủ nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu, đặc biệt là việc đeo khẩu trang chung cho mọi người và đúng cách, sẽ giảm tỉ lệ mắc COVID-19 trong cộng đồng cũng như trong các trường học để bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên.

Các yếu tố quan trọng để vận hành trường học K-12 an toàn cho việc học tập trực tiếp

CDC đã xây dựng hướng dẫn cho các chiến lược giảm thiểu mà các nhà quản lý trường học K-12 có thể sử dụng để giúp bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên, đồng thời làm chậm lây lan COVID-19. Nếu các chiến lược giảm thiểu được tuân thủ nghiêm ngặt 2, các trường K-12 có thể an toàn mở giảng dạy trực tiếp và duy trì mở cửa 20. Ngoài ra, mối liên hệ giữa tỷ lệ nhiễm và tốc độ lây truyền COVID-19 trong các trường học và tốc độ lây truyền trong cộng đồng càng nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc kiểm soát lây lan dịch bệnh trong cộng đồng để bảo vệ giáo viên, nhân viên và học sinh tại các trường học1. Tài liệu này cung cấp chiến lược vận hành để có thể cung cấp giảng dạy trực tiếp an toàn trong các trường K-12 thông qua việc tích hợp gói giảm thiểu và các yếu tố kiểm soát.

  1. Việc triển khai nhất quán các chiến lược giảm thiểu theo lớp nhằm giảm lây truyền SARS-CoV-2 trong các trường học
  2. Các chỉ báo về lây truyền cộng đồng để thể hiện mức nguy cơ trong cộng đồng
  3. Các mô hình học tập và giảm thiểu theo giai đoạn dựa vào mức lây truyền trong cộng đồng

Các nỗ lực y tế công sau đây cung cấp các lớp bổ sung để ngăn chặn COVID-19 trong trường học.

  • Xét nghiệm để xác định các cá nhân nhiễm SARS-CoV-2 để hạn chế lây truyền và bùng phát dịch bệnh
  • Tiêm chủng cho giáo viên, nhân viên và các cộng đồng ngay khi nguồn cung cho phép

Các Vấn Đề Cần Cân Nhắc về Công Bằng Y Tế

Sự bất công kéo dài và mang tính hệ thống về y tế và xã hội đã đặt nhiều nhóm chủng tộc và dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ nhiễm bệnh và tử vong do COVID-19 cao hơn. Những người nhận dạng là Người Mỹ Da Đỏ/ Người Alaska Bản Địa, Người Da Đen và gốc nói tiếng Tây Ban Nha bị ảnh hưởng không tương xứng bởi COVID-19; những chênh lệch này cũng đã xuất hiện trong đối tượng là trẻ em11. Những điều kiện tại các nơi mọi người sống, học tập, làm việc, vui chơi và tụ tập ảnh hưởng tới một loạt các nguy cơ và hệ quả về y tế như phơi nhiễm, lây nhiễm, mắc bệnh nghiêm trọng và tử vong vì SARS-CoV-2 

Việc thiếu các lựa chọn giáo dục trực tiếp có thể ảnh hưởng bất lợi tới trẻ em từ tất cả các hoàn cảnh, đặc biệt là trẻ em từ các cộng đồng bị thiếu hụt, những đối tượng có thể gặp bất lợi về giáo dục. Những học sinh này có thể ít có khả năng tiếp cận với công nghệ hỗ trợ học tập qua mạng và nhiều khả năng dựa vào các nguồn lực chính do nhà trường hỗ trợ như chương trình thực phẩm, giáo dục đặc biệt và các dịch vụ liên quan, tham vấn và các chương trình diễn ra sau giờ học tại trường. Một số phụ huynh và người chăm sóc có thể có công việc ít linh hoạt hơn và không được phép ở nhà để chăm sóc trẻ và hỗ trợ học tập qua mạng nếu trường học ngừng hoạt động giảng dạy trực tiếp. Mặt khác, một số nhóm chủng tộc và dân tộc nhất định đã phải chịu gánh nặng không tương xứng về bệnh tật và hệ quả nghiêm trọng vì COVID-19. Những bất bình đẳng về y tế xuất hiện ở trong số học sinh ở tuổi đến trường11, cho thấy việc giảng dạy trực tiếp có thể đặt ra nguy cơ lớn hơn về COVID-19 đối với nhóm dân cư bị ảnh hưởng không tương xứng. Đối với những lý do này, những điều cần lưu ý liên quan tới bình đẳng về y tế trong việc giảng dạy trực tiếp là một phần tích hợp của quy trình ra quyết định phức tạp này. Để cho phép tổ chức học tập trực tiếp tại các trường học phục vụ các nhóm chủng tộc và dân tộc bị tác động không tương xứng vì COVID-19, các nhà quản lý trường học và nhân viên y tế công có thể hợp tác với nhau để hỗ trợ các trường học trong việc lên kế hoạch và triển khai các chiến lược giảm thiểu toàn diện, gắn kết các đối tác cộng đồng và hỗ trợ việc giới thiệu tới dịch vụ chăm sóc y tế. Điều quan trọng là các trường này có nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật cần thiết để áp dụng và liên tục triển khai các hoạt động giảm lây lan vi-rút gây bệnh COVID-19 trong trường học và bên ngoài cộng đồng. Các nghiên cứu cũng nêu bật sự chênh lệch về chủng tộc và dân tộc trong quan điểm và các mối lo ngại của phụ huynh về việc tái mở cửa trường học khi diễn ra đại dịch COVID-19. So với các phụ huynh da trắng, các phụ huynh không thuộc nhóm da trắng ít có khả năng cảm thấy các trường học nên tái mở cửa có toàn bộ học sinh và lo lắng nhiều hơn về việc tuân thủ các chiến lược giảm thiểu, các trường tái mở cửa an toàn, con của họ bị bệnh vì COVID-19 và con/em họ mang COVID-1921 về nhà. Hiểu biết sự khác biệt về chủng tộc/dân tộc về thái độ và mối lo ngại của phụ huynh về việc tái mở cửa trường học có thể cung cấp thông tin cho truyền thông và các chiến lược giảm thiểu và nêu bật tầm quan trọng của việc cân nhắc các nguy cơ đối với COVID-19 nghiêm trọng và nhu cầu nguồn lực của gia đình khi xây dựng các lựa chọn để tham gia trường học trong khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Các kế hoạch để an toàn cung cấp giảng dạy trực tiếp tại các trường học K-12 phải cân nhắc các nỗ lực để thúc đẩy khả năng tiếp cận công bằng với môi trường giáo dục lành mạnh cho học sinh và nhân viên. Vì vậy các thành tố quan trọng của những kế hoạch tái mở cửa trường học nên tính đến các cộng đồng và nhóm bị ảnh hưởng không tương xứng từ việc lây nhiễm COVID-19 và các hệ quả nghiêm trọng. Những điều cần lưu ý này phải mở rộng đối với việc lên kế hoạch và triển khai các chiến lược giảm thiểu theo giai đoạn, xét nghiệm và tiêm chủng nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công bằng với các dịch vụ và hỗ trợ.

Các nhà quản lý trường học và nhân viên y tế công có thể giúp đảm bảo quyền tiếp cận với giáo dục và y tế cũng như các dịch vụ hỗ trợ xã hội khác. Để ngăn chặn lây lan SARS-CoV-2 trong trường học, các nhà quản lý trường học, nhân viên, nhân viên y tế công và lãnh đạo cộng đồng phải hợp tác với nhau nhằm đảm bảo rằng các trường, học sinh và các gia đình có nguồn lực để chủ động tham gia vào các hoạt động giáo dục cũng như các cơ hội để duy trì và quản lý sức khỏe và sự an toàn của họ. Các trường học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự công bằng trong hoạt động giáo dục và y tế cho các nhóm bị ảnh hưởng không tương xứng bởi COVID-19.

Sự gắn kết với các nhà sư phạm, các gia đình và cộng đồng trường học

Chiến dịch tái mở cửa trường học thành công đòi hỏi phải gắn kết toàn bộ cộng đồng trường học để thiết lập môi trường an toàn cho mọi nhà sư phạm, nhân viên trường học và học sinh, đồng thời thúc đẩy sự tin tưởng và sự tự tin. Việc lên kế hoạch tái mở cửa trường học nên bao gồm, ở mức tối thiểu, các nhà quản lý, giáo viên, học sinh và đại diện phụ huynh và nhân viên hỗ trợ dạy học chuyên biệt, bao gồm các chuyên gia tư vấn học đường, nhân viên xã hội tại trường, chuyên gia tâm lý học đường và y tá cũng như các quản lý hỗ trợ và nhân viên vệ sinh, nhân viên chuyên chở, nhân viên thực phẩm và các đại diện dịch vụ gia đình. Việc lên kế hoạch tái mở cửa trường học nên bao gồm học sinh và đại diện phụ huynh cũng như các cá nhân và tổ chức đại diện cho quyền lợi của học sinh, nhân viên, phụ huynh mắc khuyết tật hay có trình độ tiếng Anh hạn chế và những người khác có nhu cầu chức năng và quyền tiếp cận, sao cho các quyền lợi cụ thể được bao gồm trong các giai đoạn đầu lên kế hoạch.

Phù hợp với những điều cần lưu ý về công bằng trong y tế, các trường học và học khu nên triển khai chương trình tiếp cận chủ động và cụ thể với các gia đình chưa được phục vụ đầy đủ, bao gồm phụ huynh/người giám hộ của học sinh da màu, học sinh có hoàn cảnh thu nhập thấp, học sinh bị khuyết tật, người học tiếng Anh, học sinh bị lâm vào cảnh vô gia cư và học sinh được cơ quan xã hội chăm sóc nuôi dưỡng. Hoạt động truyền thông này nên được triển khai bằng tiếng mẹ đẻ của các gia đình hoặc các hình thức truyền thông và các định dạng thay thế khi cần để tạo điều kiện truyền thông hiệu quả cho các cá nhân bị khuyết tật và, khi phù hợp, hợp tác với các tổ chức ủy thác tại cộng đồng.

1. Các chiến lược giảm thiểu nhằm giảm lây truyền SARS-CoV-2 trong môi trường học đường

Bất kể mức độ lây truyền cộng đồng như thế nào, điều quan trọng là các trường có sử dụng và tạo lớp các chiến lược giảm thiểu. Năm chiến lược giảm thiểu chính đặc biệt quan trọng để triển khai an toàn hoạt động giảng dạy trực tiếp và giúp giảm thiểu lây truyền COVID-19 trong trường học:

Các trường cung cấp giảng dạy trực tiếp nên ưu tiên hai chiến lược giảm thiểu:

  1. Cần phải sử dụng liên tục và chính xác khẩu trang tại tất cả các mức độ lây truyền trong cộng đồng.
  2. Việc giãn cách xã hội (tối thiểu 6 feet)  nên được tăng tối đa hết sức có thể. Trong hoạt động giảng dạy kết hợp, việc lên lịch nên được lập kế hoạch nhằm đảm bảo giãn cách xã hội.

Tất cả các chiến lược giảm thiểu cung cấp một số mức bảo vệ và các chiến lược theo lớp được triển khai đồng thời cung cấp mức bảo vệ lớn nhất. Khi lên kế hoạch cho hoạt động giảng dạy trực tiếp, các trường học nên nhấn mạnh cụ thể vào việc sử dụng khẩu tranggiãn cách xã hội liên tục và đúng cách là ưu tiên hàng đầu để triển khai. Những chiến lược này có tiềm năng lớn nhất để giảm lây truyền và cũng có thể được theo dõi để triển khai liên tục và đúng cách.

Các trường nên áp dụng các chiến lược giảm thiểu chính yếu theo phương thức tiếp cận theo lớp và thực tế nhất có thể là điều đặc biệt quan trọng. Thông tin bổ sung về mỗi chiến lược giảm thiểu và lựa chọn triển khai các chiến lược được cung cấp, cùng với nguyên tắc cốt lõi về cách các trường có thể cân nhắc từng chiến lược một.

Những điều cần lưu ý liên quan tới công bằng y tế trong các chiến lược giảm thiểu

  • Luật khuyết tật liên bang đòi hỏi có phương pháp tiếp cận tùy chỉnh theo cá nhân cho các học sinh khuyết tật tương đồng với kế hoạch Phần 504 hoặc IEP của học sinh, nếu có thể. Những học sinh có khả năng di chuyển hạn chế; khó tiếp cận thông tin do khuyết tật về thị giác, thính giác hoặc các loại khác; mà cần tiếp xúc gần với nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp; có khó khăn trong việc hiểu thông tin; khó khăn thích ứng với những thay đổi trong thói quen thường nhật hoặc có mối lo ngại khác liên quan tới tình trạng khuyết tật của chúng. Trong những trường hợp này, các nhà sư phạm và lãnh đạo trường học phải nhận thức rõ tránh nhiệm của họ theo Luật khuyết tật liên bang và cũng nên cân nhắc điều chỉnh và các biện pháp thay thế cho các chiến lược giảm thiểu, trong khi vẫn duy trì các nỗ lực bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên khỏi COVID-19.
  • Công cụ giảm thiểu COVID-19 cho các trường học K-12pdf icon của CDC bao gồm các nguồn lực, công cụ và danh sách kiểm tra giúp các nhà quản lý trường học và viên chức trường học chuẩn bị để các trường mở lại hoạt động giảng dạy trực tiếp và quản lý các hoạt động đang diễn ra. Các nguồn lực và công cụ này bao gồm các khía cạnh để đề cập những vấn đề cần lưu ý về công bằng y tế như quy mô lớp học, kết nối internet, tiếp cận với phương tiện giao thông công cộng, v.v.

Sử dụng khẩu trang đúng cách và thường xuyên

Nguyên tắc cốt lõi đối với khẩu trang: Yêu cầu sử dụng dụng khẩu trang liên tục và đúng cách, đối với tất cả học sinh, giáo viên và nhân viên để ngăn chặn lây truyền qua giọt bắn từ đường hô hấp đối với SARS-CoV-2. Tất cả mọi người đều nên đeo khẩu trang toàn bộ thời gian tại các cơ sở trường học, với một số ngoại trừ với môt số người nhất định vì tình trạng khuyết tật, không thể đeo khẩu trang hoặc đeo khẩu trang an toàn, hoặc cho các môi trường nhất định như khi đang ăn hoặc uống3. Cần phải đeo khẩu trang trong tất cả các phòng học và ngoài trường học, bao gồm khu hành lang văn phòng trường, phòng vệ sinh, phòng tập thể dục, khán thính phòng, v.v.

  • Chính sách về khẩu trang cho tất cả học sinh, giáo viên và nhân viên đặt ra kỳ vọng rằng các cá nhân sẽ dùng khẩu trang trong toàn bộ trường học.
  • Hầu hết học sinh, bao gồm những người bị khuyết tật có thể chịu được và đeo khẩu trang an toàn. Tuy nhiên một tập hợp nhỏ các học sinh bị khuyết tật không thể đeo khẩu trang hoặc không thể đeo khẩu trang an toàn. Những người không thể đeo khẩu trang an toàn, ví dụ, một người khuyết tật, vì các lý do về tình trạng khuyết tật, sẽ không thể tự tháo được khẩu trang nếu thiếu sự trợ giúp nếu đường thở bị chặn lại, không nên buộc phải đeo khẩu trang. Đối với phần còn lại của tập hợp đó, các trường nên đưa ra các xác định riêng như yêu cầu của Luật khuyết tật liên bang để xác định liệu có cần có ngoại lệ đối với yêu cầu về khẩu trang và phù hợp với một học sinh cụ thể nào đó không. Nếu một trẻ khuyết tật không thể đeo khẩu trang, duy trì khoảng cách hoặc tuân thủ các yêu cầu về y tế công cộng khác, học sinh vẫn đủ điều kiện được hưởng nền tảng giáo dục phù hợp mà trong một số tình huống có thể cần được cung cấp trên mạng.
  • Nếu khách thăm được phép trong trường, họ buộc phải đeo khẩu trang toàn thời gian và nên duy trì khoảng cách tối thiểu 6 feet với người khác.
  • Các trường học nên khuyến khích tạo mô hình sử dụng khẩu trang liên tục và đúng cách bởi các lãnh đạo trường học, lãnh đạo tại địa phương và những người khác được người khác tín nhiệm trong cộng đồng.
  • Sợi có hiệu quả cao cho khẩu trang vải được dệt khít vớt hai hoặc ba lớp vải như cotton và cotton pha, thoáng khí. Không khuyến nghị sử dụng khẩu trang có sẵn van và khe thông khí, những loại dùng sợi dệt thưa và loại không vừa khớp thích hợp.

Cách ly giao tiếp xã hội

Nguyên tắc cốt lõi để giãn cách xã hội: Thiết lập các chính sách và triển khai các biện pháp can thiệp mang tính cấu trúc để khuyến khích giãn cách xã hội tối thiểu 6 feet giữa mọi người. Ở những khu vực có lây truyền cộng đồng ở mức đáng kể và cao, giãn cách xã hội là yếu tố then chốt trong việc cung cấp an toàn, giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế số người tiếp xúc gần trong các ca bệnh. Những biện pháp can thiệp trình bày trong phần này cung cấp các ví dụ về cách khuyến khích giãn cách xã hội và các biện pháp thay thế khi không phải lúc nào giãn cách xã hội cũng khả thi.

  • Lập thành cụm: Cụm (hay "tốp") là các nhóm học sinh, đôi khi là giáo viên và nhân viên, ở cùng một chỗ với nhau trong ngày đi học để giảm thiểu khả năng phơi nhiễm cho những người khác trên toàn môi trường học đường. Các cụm nên cố định nhất có thể bằng cách cho cùng nhóm học sinh ở cùng chỗ với cùng giáo viên hay nhân viên (cả ngày đối với trẻ nhỏ và càng lâu càng tốt với trẻ lớn hơn). Nếu cần thêm không gian để hỗ trợ việc lập thành cụm, hãy cân nhắc đến tất cả các không gian an toàn sẵn có trong trường học và cơ sở cộng đồng. Hạn chế trộn lẫn các cụm với nhau.
  • Khi xây dựng các cụm, điều quan trọng là cân nhắc các dịch vụ cho học sinh bị khuyết tật, người học tiếng Anh và các học sinh khác để họ có thể tiếp nhận dịch vụ bên trong cụm, ngoài ra còn đảm bảo sự công bằng, tính tích hợp và các yêu cầu khác của luật về nhân quyền bao gồm Luật khuyết tật liên bang. Nếu nhân viên lưu động (vd. chuyên gia nghiên cứu bệnh học về ngôn ngữ nói, Chương I giáo viên hỗ trợ theo mục tiêu) buộc phải cung cấp các dịch vụ có sẵn trong cụm hiện có, các biện pháp giảm thiểu lây nhiễm SARS-CoV-2, bao gồm việc cung cấp khẩu trang và bất kỳ PPE cần thiết nào cho nhân viên và học sinh làm việc với nhân viên lưu động. Nhân viên lưu động nên duy trì nhật ký truy dấu tiếp xúc chi tiết.
  • Xếp lịch xen kẽ: Xếp xen kẽ giờ đến trường và trả trẻ hoặc địa điểm theo cụm hoặc chuẩn bị sẵn các quy trình khác nhằm hạn chế tiếp xúc giữa các cụm cũng như sự tiếp xúc trực tiếp với phụ huynh ở mức tối đa.
  • Thay thế lịch biểuvới các cụm cố định học sinh và nhân viên sẽ giảm quy mô lớp học và khuyến khích giãn cách xã hội.
  • Lắp đặt các rào chắn và các dẫn hướng như thấm chắn chống hắt hơi và vách ngăn đặc biệt là ở các khu vực khó để duy trì khoảng cách giữ mọi người tối thiểu 6 feet (vd. bàn tiếp đón).
  • Khách tới thăm: Hạn chế tối đa mọi lượt khách, tình nguyện viên hay hoạt động không cần thiết có sự tham gia của các nhóm hoặc tổ chức bên ngoài - đặc biệt là những người không ở cùng khu vực địa lý (ví dụ như không thuộc cùng cộng đồng, thị trấn, thành phố, quận). Nên đặt ra các ngoại lệ cho học sinh khuyết tật, những người cần các dịch vụ liên quan do nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp quản lý (vd. chuyên gia trị liệu ngôn ngữ hiện đang phục nhiều trường học). Yêu cầu tất cả khách tới thăm đeo khẩu trang và giữ khoảng cách [#0]} foot với người khác. Các trường chỉ nên cho  phép khách tới thăm ở khu vực có mức lây truyền cộng đồng thấp (màu xanh).

Rửa tay và quy ước vệ sinh đường hô hấp

Nguyên tắc cốt lõi để rửa tay và quy ước vệ sinh hô hấp: Thông qua các bài học và đơn vị giáo dục y tế, dạy học sinh về cách rửa tay phù hợp và củng cố các hành vi và cung cấp đủ vật tư. Đảm bảo giáo viên và nhân viên rửa tay và thực hiện quy ước vệ sinh hô hấp đúng cách.

  • Dạy và củng cố việc rửa tay bằng xà phòng và nước trong ít nhất 20 giây và tăng cường giám sát nhằm đảm bảo học sinh, giáo viên và nhân viên tuân thủ. Các trường có thể tìm hiểu các lựa chọn cho việc tích hợp chương trình giảng dạy như các bài học về y tế và khoa học.
  • Khuyến khích học sinh và nhân viên che miệng và mũi khi ho và hắt hơi bằng khăn giấy khi không đeo khẩu trang và ngay lập tức rửa tay sau khi xì mũi, ho hoặc hắt hơi.
  • Một số học sinh khuyết tật có thể cần trợ giúp trong việc rửa tay và các hành vi liên quan tới quy ước vệ sinh đường hô hấp.
  • Có đủ vật tư: Hỗ trợ  hành vi vệ sinh lành mạnh bằng cách cung cấp đủ vật tư gồm xà phòng, cách làm khô tay, khăn giấy, khẩu trang (nếu có thể) và thùng rác không chạm/bàn đạp chân. Nếu xà phòng và nước không có sẵn, các trường có thể cung cấp dung dịch sát trùng tay chứa cồn với nồng độ cồn tối thiểu 60% (cho nhân viên và trẻ lớn tuổi hơn có thể dùng dung dịch sát trùng tay an toàn).

Vệ sinh và duy trì cơ sở lành mạnh

Nguyên tắc cốt lõi để vệ sinh và duy trì cơ sở lành mạnh: Định kỳ và kiên định vệ sinh các bề mặt thường xuyên chạm vào (như tay nắm cửa và công tắc đèn). Đưa ra các thay đổi về không gian thực thể để duy trì một môi trường và các cơ sở lành mạnh.

  • Vệ sinh: Thường xuyên vệ sinh các bề mặt hay chạm vào (VD: trang thiết bị sân chơi, tay nắm cửa, tay cầm bồn rửa, bồn cầu, vòi uống nước) trong trường và trên xe buýt của trường ít nhất mỗi ngày một lần hoặc càng nhiều càng tốt sau mỗi lần sử dụng.
  • Sửa đổi bố cục: điều chỉnh bố cục trong các lớp học và môi trường khác để tăng tối đa không gian thực thể, như xoay bàn cùng quay về một hướng.
  • Dẫn hướng và rào chắn: Lắp đặt rào chắn và cung cấp các dẫn hướng như băng keo trên sàn nhà và mũi tên để khuyến khích giãn cách xã hội và giảm thiểu tụ tập đông người.
  • Vật dụng dùng chung: Không khuyến khích dùng chung vật dụng, đặc biệt là các vật dụng khó làm sạch.
  • Hệ thống nước: Thực hiện các bước nhằm đảm bảo tất cả các hệ thống nước và tiện nghi (VD: vòi nước, đài phun nước trang trí) có thể sử dụng an toàn sau một thời gian ngừng hoạt động kéo dài.
  • Không gian cộng đồng: Đóng cửa các không gian cộng đồng dùng chung, như phòng ăn nếu có thể; nếu không thì xếp xen kẽ việc sử dụng và  làm sạch sau mỗi lần sử dụng. Cân nhắc sử dụng không gian lớn hơn như phòng ăn để giảng dạy học thuật nhằm tăng tối đa giãn cách xã hội.
  • Dịch vụ ăn uống: Tránh tổ chức các hình thức ăn uống tự phục vụ như quầy đồ ăn nóng và lạnh, quầy salad hoặc gia vị và quầy đồ uống.
  • Thông gió: Cải thiện việc thông gió trong chừng mực có thể như mở cửa sổ và cửa ra vào để tăng lưu thông không khí ngoài trời giúp tăng việc cấp không khí sạch và làm loãng các chất có khả năng gây ô nhiễm. Việc mở cửa sổ và cửa ra vào nên nhất quán với kế hoạch an toàn và các quy trình an toàn của trường học. Không mở cửa sổ và cửa ra vào nếu làm vậy gây ra nguy cơ về an toàn hoặc sức khỏe (vd. nguy cơ bị ngã, gây ra các triệu chứng hen) cho bất kỳ ai sử dụng cơ sở đó. Việc mở cửa sổ và cửa ra vào nên nhất quán với kế hoạch an toàn và các quy trình an toàn của trường học. Quý vị có thể tìm thêm thông tin về thông gió tại đây.

Truy dấu tiếp xúc kết hợp với việc cách ly và cô lập

Nguyên tắc cốt lõi để truy dấu tiếp xúc Các trường nên hợp tác với sở y tế STLT, trong chừng mực cho phép theo luật về quyền riêng tư và các luật hiện hành khác để cung cấp thông tin về người đã được chẩn đoán hoặc phơi nhiễm với COVID-19 một cách bảo mật. Những người có kết quả xét nghiệm dương tính nên được cô lập và những người tiếp xúc gần nên được cách ly. Các cá nhân nên cách ly hoặc cô lập tại nhà, không ở trong môi trường học đường và nên ở nhà đến khi đáp ứng các khuyến nghị của CDC về việc cách ly hoặc cô lập.

  • Ở nhà khi thích hợp: Hướng dẫn giáo viên, nhân viên và các gia đình về thời điểm họ và con em họ nên ở nhà và khi họ có thể quay trở lại trường học. Học sinh, giáo viên và nhân viên có các triệu chứng nên ở nhà và được giới thiệu tới nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để được xét nghiệm và chăm sóc. Trường học có thể cân nhắc các chính sách và thực hành nghỉ bệnh linh hoạt cho phép nhân viên ở nhà khi họ mắc bệnh, bị phơi nhiễm hoặc chăm sóc người bệnh. Các hệ thống trường học nên tuyển dùng và đào tạo đủ giáo viên thay thế nhằm đảm bảo giáo viên có thể ở nhà khi họ bị bệnh hoặc đã phơi nhiễm với người đã được xác nhận hoặc nghi nhiễm COVID-19.
  • Cô lập nên được dùng để phân tách những người được chẩn đoán mắc COVID-19 với những người không nhiễm bệnh. Học sinh, giáo viên và nhân viên đang cô lập nên ở nhà và làm theo hướng dẫn của cơ quan y tế công cộng địa phương về thời điểm an toàn để họ ở gần bên người khác.
  • Truy dấu tiếp xúc: Các trường nên làm việc với sở y tế tiểu bang, vùng lãnh thổ, địa phương hoặc bộ lạc, trong chừng mực cho phép theo pháp luật hiện hành,  truy dấu tiếp xúc có hệ thống các học sinh, giáo viên và nhân viên bị lây nhiễm và triển khai nhất quán việc cô lập các ca bệnh và cách ly những người có tiếp xúc. Các trường có thể chuẩn bị và cung cấp thông tin và hồ sơ hỗ trợ việc xác định những người có khả năng tiếp xúc, các địa điểm phơi nhiễm và các khuyến nghị giảm thiểu, nhất quán với luật hiện hành, bao gồm những luật có liên quan tới quyền riêng tư và bảo mật. Sở y tế nên phối hợp với nhà quản lý trường học K-12 để lấy thông tin liên hệ của những cá nhân khác ở chung phòng, lịch học, bữa ăn chung hoặc hoạt động ngoại khóa sẽ đẩy nhanh quá trình truy dấu tiếp xúc. Để các trường tiếp tục mở cửa, các sở y tế nên đảm bảo họ có đủ người truy dấu tiếp xúc để hoàn thành việc điều tra ca bệnh và thông báo với những người đã tiếp xúc trong vòng 48 giờ khi có kết quả xét nghiệm dương tính.
  • Điều tra ca bệnh và truy dấu tiếp xúc là biện pháp can thiệp quan trong trong việc ứng phó với COVID-19 đa chiều và thành công, đồng thời nên được triển khai cùng với các chiến lược giảm thiểu khác. Vì các trường K-12 tiếp tục phương thức giảng dạy trực tiếp, nghiên cứu ca bệnh và truy dấu tiếp xúc các nhân viên, giáo viên và học sinh nên được coi là chiến lược quan trọng để làm giảm sự lây truyền sau khi xác định một ca nhiễm bệnh. Các hành động phối hợp và kịp thời, bao gồm nghiên cứu ca bệnh và truy dấu tiếp xúc, có thể cung cấp thông tin giúp đưa ra quyết định về việc tăng cường, tập trung và nới lỏng các chiến lược giảm thiểu. Việc nghiên cứu ca bệnh và truy dấu tiếp xúc giúp ngăn chặn việc lây truyền thêm dịch bệnh bằng cách tách riêng những người nhiễm (hoặc có thể nhiễm) COVID-19 khỏi những người không bị nhiễm bệnh. Xác định kịp thời, tự nguyện tự cách ly và theo dõi những người đã phơi nhiễm với SARS-CoV-2 có thể phá vỡ chuỗi lây truyền một cách hiệu quả và ngăn ngừa vi-rút lan rộng trong cộng đồng.
  • Cách ly nên được dùng cho học sinh, giáo viên và nhân viên có thể đã bị phơi nhiễm với COVID-19. Người tiếp xúc gần, được xác định qua việc truy dấu tiếp xúc nên được cách ly. Học sinh, giáo viên và nhân viên được cách ly nên ở nhà và làm theo chỉ dẫn của sở y tế công cộng địa phương về thời điểm an toàn để họ có thể ở gần bên người khác. Nếu có trẻ khuyết tật cần được cách ly, trường học cần phải cung cấp các dịch vụ nhất quán với Luật khuyết tật liên bang.

2. Những chỉ báo về lây truyền cộng đồng

Trong đại dịch COVID-19, các tiểu bang, bộ lạc, địa phương, vùng lãnh thổ và học khu đã yêu cầu CDC đưa ra hướng dẫn để có thông tin trong việc ra quyết định về thời điểm và cách mở cửa trường học an toàn.

Với mối liên quan có thể có giữa mức độ lây truyền cộng đồng về SARS-CoV-2 và nguy cơ phơi nhiễm với SARS-CoV-2 tại các trường học1,16,, bước đầu tiên khi xác định thời điểm và cách thức để có thể tái mở cửa an toàn liên quan tới mức lây truyền cộng đồng. Các quản trị viên trường học, phối hợp cùng các nhân viên y tế công cộng, nên đánh giá mức độ rủi ro của cộng đồng và khả năng xảy ra một ca bệnh tại cơ sở trường học, khả năng ca bệnh có thể dẫn đến bùng phát dịch bệnh và hậu quả của việc lây truyền trong trường học.

CDC khuyến nghị sử dụng hai đại lượng đo lường gánh nặng trong cộng đồng để xác định mức nguy cơ lây truyền: tổng số ca bệnh mới trên 100.000 người trong 7 ngày qua; và tỉ lệ phần trăm xét nghiệm khuếch đại axít nucleic (NAAT), bao gồm xét nghiệm RT-PCR là dương tính trong 7 ngày qua. Hai đại lượng đo lường gánh nặng cộng đồng nên được sử dụng để đánh giá tỷ lệ mắc mới và lây lan SARS-CoV-2 trong cộng đồng xung quanh (VD: quận), thay vì trong chính các trường. Nếu hai chỉ số thể hiện các mức độ khác nhau, các hành động tương ứng với ngưỡng cao hơn (trong Bảng 2) nên được chọn. Mức lây truyền cho bất kỳ địa điểm cho trước nào sẽ thay đổi theo thời gian và nên được đánh giá lại hàng tuần để nhận biết tình hình và liên tục cung cấp thông tin cho hoạt động lên kế hoạch.

Bảng 1. Các chỉ báo và ngưỡng của CDC đối với lây truyền cộng đồng về COVID-191

Chỉ Báo Lây truyền thấp

Xanh da trời

Lây truyền trung bình

Màu vàng

Lây truyền đáng kể

Cam

Lây truyền cao

Đỏ

Bảng 1. Các chỉ báo và ngưỡng của CDCvề lây truyền cộng đồng về COVID-19
Tổng số ca bệnh mới trong 100.000 người trong 7 ngày qua2 0-9 10-49 50-99 ≥100
Tỉ lệ phần trăm của NAAT dương tính trong ngày 7 qua3 <5,0% 5.0%-7.9% 8.0%-9.9% ≥10.0%

1Nếu hai chỉ số thể hiện các mức độ khác nhau, các hành động tương ứng với ngưỡng cao hơn nên được chọn. Dữ liệu cấp quận về tổng số ca bệnh mới trong 7 ngày qua và tỷ lệ xét nghiệm dương tính có sẵn trong tab Chế Độ Hiển Thị Theo Quận trong Trình Theo Dõi Dữ Liệu COVID của CDC.

2Tổng số ca nhiễm mới trong 100.000 ngày trong 7 ngày qua bằng cách thêm số ca nhiễm mới trong quận (hoặc loại cộng đồng khác) trong 7 ngày qua chia cho dân số của quận (hoặc loại cộng đồng khác) và nhân với 100.000.

3Tỉ lệ phần trăm NAAT sàng lọc và chẩn đoán dương tính trong 7 ngày qua được tính toán bằng cách chia số xét nghiệm dương tính tại quận (hoặc mức quản trị khác) trong 7 ngày qua bới tổng số xét nghiệm có kết quả trong 7 ngày qua. Thông tin bổ sung có thể được tìm thấy trên trang web Tính Toán Tỷ Lệ Phần Trăm Xét Nghiệm Dương Tính Với Vi-rút Corona Gây Ra Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nghiêm Trọng 2 (SARS-CoV-2): Các Phương Pháp và Lưu Ý Khi So Sánh và Giải Thích Của CDC.

4Trước đó, CDC đã cung cấp hướng dẫn cho các trường học thông qua Các chỉ báo để chủ động ra quyết định cho trường học. Các chỉ báo và ngưỡng hiện tại được cập nhật cho tài liệu đó thể hiện việc tập trung trong 7 ngày qua và bốn (hơn là năm) danh mục lây truyền cộng đồng.

Trong khi nguy cơ phơi nhiễm với SARS-CoV-2 trong trường học có thể thấp hơn khi chỉ báo lây lan cộng đồng ở mức thấp hơn, nguy cơ này cũng phụ thuộc vào việc triển khai các chiến lược giảm thiểu tại trường học và cộng đồng, bao gồm yêu cầu sử dụng liên tục và đúng cách khẩu trang, giãn cách xã hội rửa tay và quy ước vệ sinh đường hô hấp, vệ sinh và duy trì các cơ sở lành mạnh và truy dấu tiếp xúc kết hợp với việc cách ly và cô lập. Nếu lây truyền cộng đồng ở mức thấp nhưng các chiến lược giảm thiểu cộng đồng và trường học không được triển khai, thì nguy cơ phơi nhiễm và lây truyền SARS-CoV-2 sau đó tại trường học sẽ tăng lên. Mặt khác, nếu mức độ lây truyền cộng đồng cao nhưng các chiến lược giảm thiểu trong trường học và cộng đồng được triển khai và tuân thủ nghiêm ngặt theo khuyến cáo, thì nguy cơ lây truyền sau đó của SARS-CoV-2 trong trường học sẽ giảm đi.

Thành công trong việc ngăn chặn COVID-19 tại trường học bắt đầu và được kết nối để ngăn chặn lây truyền trong cộng đồng. Các trường học và cộng đồng phải triển khai phương thức nhiều lớp, có tuân thủ nhiều chiến lược giảm thiểu và điều chỉnh chúng khi cần để giảm nguy cơ về COVID-19 cho học sinh, giáo viên, nhân viên trường học, các gia đình và cộng đồng. Ở những khu vực có mức lây truyền cộng đồng thấp hoặc trung bình, việc lây nhiễm SARS-CoV-2 trong trường học ở mức thấp khi sử dụng nhất quán các chiến lược giảm thiểu theo lớp có sẵn.

Khi các cộng đồng triển khai và tuân thủ nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu, mức độ lây truyền cộng đồng sẽ chậm lại. Điều này, theo đó, sẽ cho phép các trường đang vận hành hoạt động học tập trực tiếp sẽ tiếp tục mở cửa và giúp các trường học vẫn chưa tái mở cửa quay lại giảng dạy trực tiếp. Việc áp dụng và tính thiết thực của các chỉ báo này có mối liên quan không thể tách rời với việc các trường và cộng đồng cùng nhau tuân thủ các chiến lược giảm thiểu được khuyến cáo.

3. Các chế độ học tập, xét nghiệm và giảm thiểu theo giai đoạn

Để các trường vận hành an toàn học tập trực tiếp, các cộng đòng nên triển khai và tuân thủ đầy đủ các chiến lược giảm thiểu để giảm tỉ lệ mắc COVID-19 và ra quyết định ưu tiên mở cửa các trường học an toàn cho việc học tập trực tiếp so với các hoạt động và doanh nghiêpj không thuộc lĩnh vực thiết yếu. Ngoài ra, để giảm nguy cơ lây truyền tại trường học, trường học nên triển khai đầy đủ và tuân thủ nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu theo lớp được khuyến nghị, đặc biệt là đeo khẩu trang liên tục và đúng cách và giãn cách xã hội.

Các khuyến nghị giảm thiểu theo giai đoạn dùng để hỗ trợ các viên chức trường học và STLT trong việc ra quyết định thông qua việc theo dõi thường xuyên các chỉ báo địa phương. Khi các viên chức trường học theo dõi chỉ báo và ngưỡng, họ nên tính đến các yếu tố và xu hướng địa phương khi ra quyết định về học tập trực tiếp. Ví dụ, việc triển khai các chiến lược giảm thiểu nên được tăng cường nếu các chỉ báo trở nên tồi tệ hơn (nghĩa là chuyển từ mức lây truyền cộng đồng thấp sang trung bình, từ mức đáng kể sang cao). Tăng cường giảm thiểu cũng có thể liên quan tới việc áp đặt các hạn chế cho hoạt động thể thao và ngoại khóa. Nếu các xu hướng gia tăng kéo dài hoặc ổn định ở mức đáng kể, trường học nên chuyển dịch sang việc giảng dạy kết hợp. Tương tự như vậy, các chiến lược giảm thiểu và việc chuyển dịch sang giảng dạy trực tiếp toàn phần chỉ nên giảm hoặc gỡ bỏ sau khi thấy dấu hiệu cải thiện liên tục được ghi nhận trong vài tuần, như giảm từ mức đáng kể sang trung bình. Để đưa ra những quyết định này, viên chức trường học và STLT nên xem xét các mức lây truyền cộng đồng, thông tin về việc tuân thủ các chiến lược giảm thiểu và dữ liệu về số ca bệnh COVID-19 và số người đang được cách ly. CDC cũng cung cấp các chỉ báo phụ mà viên chức trường học và STLT có thể sử dụng để cung cấp thông tin khi ra các quyết định này. Các chỉ báo phụ có sẵn trong Chỉ báo để chủ động ra quyết định cho trường học trước đó của CDC.

Giảm thiểu theo giai đoạn tại trường học không triển khai việc xét nghiệm sàng lọc

Bảng 2 thể hiện kế hoạch vận hành để mở cửa và duy trì mở cửa các trường học không cung cấp xét nghiệm sàng lọc tại cơ sở hoặc qua việc hợp tác với sở y tế công hoặc dịch vụ cộng đồng. Kế hoạch giảm thiểu nhấn mạnh vào việc giảm thiểu ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng, nhấn mạnh đặc biệt vào các chính sách của trường học đòi hỏi sử dụng khẩu trang liên tục và đúng cách.

Bảng 2. Việc triển khai các chiến lược giảm thiểu và chế độ học tập tại trường K-12 được khuyến nghị theo mức lây truyền cộng đồng cho các trường không triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng

Bảng 3. Triển khai các chiến lược giảm thiểu, xét nghiệm và các chế độ học tại trường K-12 an toàn được khuyến nghị theo mức lây truyền cộng đồng cho các trường triển khai xét nghiệm mở rộng
Lây truyền thấp1

Xanh da trời

Lây truyền trung bình

Màu vàng

Lây truyền đáng kể

Cam

Lây truyền cao

Đỏ

Tất cả các trường học: Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách; giãn cách xã hội; rửa tay và quy ước vệ sinh đường hô hấp; vệ sinh và duy trì các cơ sở lành mạnh; truy dấu tiếp xúc kết hợp với cách ly và cô lập.

Xét nghiệm chẩn đoán2: Các học sinh, giáo viên và nhân viên có triệu chứng và người tiếp xúc gần được giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán

Các trường học K-12 mở cửa giảng dạy trực tiếp toàn phần

Giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên ở mức tối đa có thể3

Các trường tiểu học dùng chế độ học tập kết hợp hoặc giảm lượng học sinh đến trường4

Cần giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên

Các trường trung học và trung học phổ thông dùng chế độ học tập kết hợp hoặc giảm lượng học sinh đến trường

Cần giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên

Các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ triển khai giảng dạy trực tuyến trừ khi họ có thể triển khai nghiêm ngặt tất cả các chiến lược giảm thiểu; và có ít ca bệnh; các trường đã mở giảng dạy trực tiếp có thể tiếp tục mở cửa, nhưng chỉ khi họ triển khai nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu và có ít ca bệnh5
Các hoạt động thể thao và ngoại khóa xảy ra; giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên ở mức tối đa có thể6 Các hoạt động thể thao và ngoại khóa xảy ra, yêu cầu phải giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên. Các hoạt động thể thao và ngoại khóa chỉ xảy ra nếu có thể tổ chức ngoài trời và cần có giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên. Các hoạt động thể thao và ngoại khóa chỉ diễn ra qua mạng

1Mức lây truyền cộng đồng được xác định là tổng số ca mới trong 100.000 người trong 7 ngày qua (thấp, 0-9; trung bình, 10-49; đáng kể, 50-99; cao, ≥100) và tỉ lệ phần trăm xét nghiệm dương tính trong 7 ngày qua (thấp, <5%; trung bình, 5-7,9%; đáng kể, 8-9.9%; cao, ≥10%).

2Xét nghiệm chẩn đoán cho SARS-CoV-2 được dùng để xác định tỉ lệ nhiễm SARS-CoV-2 ở mức cá nhân và được thực hiện trên các cá nhân có hoặc không có nghi nhiễm COVID-19 phù hợp với nhãn và giấy phép của xét nghiệm.

3Nếu không thể thường xuyên thực hiện giãn cách xã hội tối thiểu 6 feet trong toàn bộ học sinh, giáo viên và nhân viên nội trong một lớp học, cụm hoặc nhóm, các trường nên đảm bảo giãn cách xã hội giữa các lớp, cụm và nhóm.

4Việc học tập kết hợp hoặc giảm lượng học sinh đến trường dùng để tăng tối đa khoảng cách thực thể giữa các học sinh. Các trường có thể cân nhắc các mô hình học tập kết hợp hoặc các chế độ giảng dạy khi tỷ lệ đáng kể học sinh chỉ tham gia học tập trực tuyến. Ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng, các trường nên cung cấp lựa chọn tham gia học trực tuyến cho các gia đình nếu có học sinh hoặc thành viên gia định có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19.

5Triển khai nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu đề cập tới các chính sách đòi hỏi phải sử dụng khẩu trang nhất quán và đúng cách, giãn cách xã hội tổi thiểu 6 feet, cùng tất cả các chiến lược giảm thiểu quan trọng khác.

6Các viên chức trường học nên triển khai các hạn chế số lượng người xem và người tham dự các hoạt động thể thao và ngoại khóa cũng như các sự kiện của trường nhất quán với các khuyến nghị đối với việc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội cho mỗi giai đoạn.

Giảm thiểu theo giai đoạn tại trường học có triển khai xét nghiệm sàng lọc

Bảng 3 thể hiện kế hoạch vận hành cho các trường học cung cấp xét nghiệm sàng lọc tại cơ sở hoặc qua việc phối hợp với sở y tế công hoặc dịch vụ cộng đồng. Kế hoạch theo giai đoạn kết hợp với việc triển khai các chiến lược giảm thiểu và xét nghiệm theo mức lây truyền cộng đồng. Tương tự như kế hoạch để không xét nghiệm, kế hoạch này nhấn mạnh vào việc giảm thiểu có nhấn mạnh đặc biệt vào các chính sách của trường học đòi hỏi sử dụng khẩu trang thường xuyên và đúng cách.

Bảng 3. Triển khai các chiến lược giảm thiểu, xét nghiệm và các chế độ học tại trường K-12 an toàn được khuyến nghị theo mức lây truyền cộng đồng cho các trường triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng

Bảng 3. Triển khai các chiến lược giảm thiểu, xét nghiệm và các chế độ học tại trường K-12 an toàn được khuyến nghị theo mức lây truyền cộng đồng cho các trường triển khai xét nghiệm mở rộng
Lây truyền thấp1

Xanh da trời

Lây truyền trung bình

Màu vàng

Lây truyền đáng kể

Cam

Lây truyền cao

Đỏ

Tất cả các trường triển khai 5 chiến lược giảm thiểu chính: Cần sử dụng khẩu trang thường xuyên và đúng cách; giãn cách xã hội; rửa tay và quy ước vệ sinh đường hô hấp; vệ sinh và duy trì các cơ sở lành mạnh; truy dấu tiếp xúc kết hợp với cách ly và cô lập.

Xét nghiệm chẩn đoán2Các học sinh, giáo viên và nhân viên có triệu chứng và người tiếp xúc gần được giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán

Xét nghiệm sàng lọc3
Xét nghiệm sàng lọc thường kỳ cho giáo viên và nhân viên được cung cấp mỗi tuần một lần
Không có xét nghiệm sàng lọc cho học sinh Xét nghiệm sàng lọc thường kỳ cho học sinh được cung cấp mỗi tuần một lần4

 

 

Trạng thái trường học
Các trường học K-12 mở cửa giảng dạy trực tiếp toàn phần

Giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên ở mức tối đa có thể5

Các trường K-12 dùng chế độ học tập kết hợp hoặc giảm lượng học sinh đến trường6

Cần giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên

Các hoạt động thể thao và ngoại khóa xảy ra; giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên ở mức tối đa7 Các hoạt động thể thao và ngoại khóa xảy ra, yêu cầu phải giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên. Các hoạt động thể thao và ngoại khóa chỉ xảy ra nếu có thể tổ chức ngoài trời và cần có giãn cách xã hội từ 6 feet trở lên. Các hoạt động thể thao và ngoại khóa chỉ diễn ra qua mạng

1Mức lây truyền cộng đồng được xác định là tổng số ca mới trong 100.000 người trong 7 ngày qua (thấp, 0-9; trung bình, 10-49; đáng kể, 50-99; cao, ≥100) và tỉ lệ phần trăm xét nghiệm dương tính trong 7 ngày qua (thấp, <5%; trung bình, 5-7,9%; đáng kể, 8-9.9%; cao, ≥10%).

2Xét nghiệm chẩn đoán về SARS-CoV-2 dược dùng để xác định tỉ lệ nhiễm SARS-CoV-2 ở mức cá nhân và được thực hiện khi có lý do để nghi ngờ rằng một cá nhân có thể bị nhiễm bệnh, như có các triệu chứng hoặc nghi ngờ bị phơi nhiễm gần dây.

3Xét nghiệm sàng lọc được dùng để xác định những người nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng, những người này có thể gây truyền nhiễm bệnh nên cần thực hiện các biện pháp để tránh lây truyền thêm.

4Các trường có thể cân nhắc xét nghiệm mẫu lấy ngẫu nhiên của ít nhất 10% sinh viên hoặc có thể triển khai xét nghiệm tổng hợp các cụm/nhóm để xét nghiệm sàng lọc tại các khu vực có mức lây truyền cộng đồng ở mức trung bình và đáng kể.

5Nếu không thể thường xuyên thực hiện giãn cách xã hội tối thiểu 6 feet trong toàn bộ học sinh, giáo viên và nhân viên nội trong một lớp học, cụm hoặc nhóm, các trường nên đảm bảo giãn cách xã hội giữa các lớp, cụm và nhóm.

6Việc học tập kết hợp hoặc giảm lượng học sinh đến trường dùng để tăng tối đa khoảng cách thực tế giữa các học sinh. Các trường có thể cân nhắc các mô hình học tập kết hợp hoặc các chế độ giảng dạy khi tỷ lệ đáng kể học sinh chỉ tham gia học tập trực tuyến. Ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng, các trường nên cung cấp lựa chọn tham gia học trực tuyến cho các gia đình nếu có học sinh hoặc thành viên gia định có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19.

7Các viên chức trường học nên triển khai các hạn chế số lượng người xem và người tham dự các hoạt động thể thao và ngoại khóa cũng như các sự kiện của trường nhất quán với các khuyến nghị đối với việc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội cho mỗi giai đoạn.

Phương thức giảm thiểu theo giai đoạn với các chế độ học tập và xét nghiệm cho các trường K-12 dựa vào một số khái niệm cốt lõi.

  • Các trường học K-12 nên là các cơ sở cuối cùng phải đóng cửa sau khi tất cả biện pháp giảm thiểu rủi ro khác trong cộng đồng đã được triển khai và là các cơ sở đầu tiên được mở cửa khi có thể mở cửa an toàn. Điều này ám chỉ rằng người ra quyết định và các cộng đồng nên ưu tiên các trường mở cửa trở lại và duy trì mở cửa cho việc giảng dạy trực tiếp so với các hoạt động và doanh nghiệp không thuộc lĩnh vực thiết yếu bao gồm ăn uống trong nhà, quán bar, tụ tập giao lưu và các môn thể thao đòi hỏi tiếp xúc gần khi lây truyền cộng đồng được kiểm soát.
  • Giảng dạy trực tiếp nên được ưu tiên so với các hoạt động ngoại khóa bao gồm các sự kiện thể thao và trường học để giảm thiểu nguy cơ lây truyền tại trường học và học tập trực tiếp. Thời gian học tập từ xa hoặc qua mạng kéo dài có thể có tác động tiêu cực tới tiến trình giáo dục cho học sinh, có khả năng làm chậm hoặc đảo ngược kết quả học tập. Học sinh từ cộng đồng bị thiếu hụt, người học tiếng Anh và học sinh khuyết tật có thể gặp phải tình trạng thất học không tương xứng do bị hạn chế tiếp cận với công nghệ học tập, các dịch vụ và hệ thống hỗ trợ học tập ít hơn khi ở bên ngoài trường học. Việc đi học trực tiếp an toàn cũng có thể bù đắp cho các tác động tiêu cực về sức khỏe tâm thần, xã hội, tâm lý của một giai đoạn học tập qua mạng kéo dài. Việc giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh trong khi diễn ra các hoạt động ngoại khóa và tụ tập giao lưu bên ngoài trường học có thể giúp duy trì giảng dạy trực tiếp. Một số môn thể thao đòi hỏi tiếp xúc gần không thể triển khai ở bất kỳ mức lây truyền cộng đồng nào do nguy cơ lây truyền và không thể thực hiện các chiến lược giảm thiểu22.
  • Tỉ lệ mắc bệnh cũng như khả năng bị tổn thương thấp hơn ở trẻ nhỏ hơn so với với trẻ vị thành niên cho thấy rằng học sinh nhỏ hơn (ví dụ, các trường tiểu học) có thể có ít nguy cơ lây truyền trong trường học do học tập trực tiếp hơn học sinh lớn hơn (trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông). Ngoài ra, trẻ nhỏ tuổi hơn có thể hưởng lợi nhiều hơn từ việc học tập trực tiếp và ít độc lập hơn học sinh lớn tuổi hơn. Vì những lý do này, phương thức giảm thiểu theo giai đoạn nhấn mạnh vào các chế độ học tập trực tiếp cho học sinh nhỏ tuổi hơn thông qua tất cả các mức lây truyền cộng đồng.
  • Các gia đình của học sinh có nguy cơ cao mắc bệnh nghiệm trọng (bao gồm những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt) hoặc những người sống cùng người có nguy cơ cao nên được cung cấp lựa chọn giảng dạy trực tuyến bất kể hình thức học tập được cung cấp là gì.
  • Các trường được khuyến khích sử dụng việc tạo đoàn hệ hoặc tạo nhóm học sinh, đặc biệt là ở mức độ trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và cao (màu đỏ) để hỗ trợ việc xét nghiệm và truy dấu tiếp xúc, đồng thời giảm thiểu việc lây truyền giữa các nhóm.

Các trường học không triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng: Các chế độ học tập và giảm thiểu theo giai đoạn

Với các trường không triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng, các chế độ học khuyến nghị khác nhau để giảm thiểu nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 tại trường học bằng cách nhấn mạnh vào việc giảm thiểu theo lớp, bao gồm các chính sách của trường học yêu cầu việc sử dụng khẩu trang liên tục và đúng cách.

  • Lây truyền cộng đồng thấp (màu xanh) và trung bình (màu vàng): Các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông mở cửa để học tập trực tiếp toàn phần với tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính. Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách. Giãn cách xã hội được duy trì ở mức tối đa. Các trường có thể hưởng lợi từ việc dùng các cụm hoặc đoàn hệ để tạo điều kiện thuận lợi các quy trình xét nghiệm và truy dấu tiếp xúc và giảm thiểu nguy cơ lây truyền. Nếu không thể liên tục duy trì giãn cách xã hội tối thiểu 6 feet giữa toàn bộ học sinh, giáo viên và nhân viên nội trong một lớp học, đoàn hệ hoặc cụm, các trường nên đảm bảo giãn cách xã hội giữa các lớp học, đoàn hệ và cụm.
  • Lây truyền cộng đồng đáng kể (màu cam): Trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông chuyển sang giảng dạy kết hợp để tăng tối đa giãn cách xã hội và giảm nguy cơ lây truyền. Các trường có thể cân nhắc các mô hình học tập kết hợp hoặc các chế độ giảng dạy khi tỷ lệ đáng kể học sinh chỉ tham gia học tập trực tuyến. Triển khai tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính.  Cần phải giãn cách xã hội và sử dụng khẩu trang liên tục, đúng cách.
  • Lây truyền cộng đồng cao (màu đỏ): Các trường tiểu học tiếp tục giảng dạy kết hợp cùng 5 chiến lược giảm thiểu chính có sẵn. Cần phải giãn cách xã hội và sử dụng khẩu trang liên tục, đúng cách. Đối với trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, khuyến nghị chuyển sang giảng dạy trực tuyến. Một số trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có thể cân nhắc việc mở hoặc duy trì mở cửa nếu các chiến lược giảm thiểu được triển khai nhất quán, có sẵn các chính sách trường học đòi hỏi đeo khẩu trang liên tục và đúng cách, đồng thời theo dõi các ca bệnh tại trường gợi ý lây truyền hạn chế. Tại các cộng đồng có mức lây truyền cao, tỉ lệ mắc COVID-19 cao trong cộng đồng cũng có thể dẫn tới việc nhiều giáo viên và nhân viên phải cách ly do phơi nhiễm trong cộng đồng, hạn chế khả năng các trường tiếp tục mở cửa an toàn.

Các trường nên theo dõi chặt chẽ và thường xuyên số học sinh, giáo viên và nhân viên mắc COVID-19, cũng như những người đang phải cách ly và tách riêng. Các trường có thể cân nhắc tập hợp một nhóm hoặc ủy ban có đại diện từ sở y tế công cộng địa phương và thành viên thuộc cộng đồng nhà trường (vd. học sinh, giáo viên, phụ huynh và nhân viên) xem xét dữ liệu thường xuyên, chia sẻ thông tin và thảo luận về các cơ hội hỗ trợ trao đổi cởi mở các bên liên quan của trường học. Hợp tác với sở y tế địa phương, các quyết định nên được định hưởng theo thông tin về các yếu tố cụ thể của trường học như việc triển khai các chiến lược giảm thiểu, nhu cầu địa phương, ý kiến các bên liên quan, kinh nghiệm của trường học và số ca bệnh trong học sinh, giáo viên và nhân viên. Quyết định duy trì mở cửa nên dựa trên các cân nhắc về củng cố hơn nữa các chiến lược giảm thiểu rủi ro và tiếp tục giám sát các ca bệnh để đánh giá lại quyết định.

Các trường triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng: Các chế độ học tập và giảm thiểu theo giai đoạn

Dựa vào các khái niệm cốt lõi này, phương thức theo giai đoạn nên tính đến mức lây truyền cộng đồng và thể hiện các lựa chọn về chế độ học tập và các chiến lược xét nghiệm dựa vào nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 tại trường học.

  • Lây truyền cộng đồng thấp (màu xanh): Các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông mở cửa để học tập trực tiếp toàn phần cùng tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính có sẵn. Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách. Các trường có thể hưởng lợi từ việc dùng các cụm hoặc đoàn hệ để tạo điều kiện thuận lợi các quy trình xét nghiệm và truy dấu tiếp xúc và giảm thiểu nguy cơ lây truyền.
  • Lây truyền cộng đồng trung bình (màu vàng): Các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông mở cửa để học tập trực tiếp toàn phần cùng tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính có sẵn, dùng hình thức tạo các cụm hoặc đoàn hệ. Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách.
  • Lây truyền cộng đồng đáng kể (màu cam):: Trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông chuyển sang giảng dạy kết hợp để tăng tối đa giãn cách xã hội và giảm nguy cơ lây truyền. Các trường có thể cân nhắc các mô hình học tập kết hợp hoặc các chế độ giảng dạy khi tỷ lệ đáng kể học sinh chỉ tham gia học tập trực tuyến. Triển khai tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính.  Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách; duy trì việc giãn cách xã hội.
  • Lây truyền cộng đồng cao (màu đỏ): Các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tiếp tục giảng dạy kết hợp hai hình thức khác nhau cùng tất cả 5 chiến lược giảm thiểu chính có sẵn. Trong các cộng đồng có mức lây truyền cao, tỉ lệ mắc COVID-19 cao trong cộng đồng có thể dẫn tới nhiều giáo viên và nhân viên cách ly do phơi nhiễm trong cộng đồng, hạn chế khả năng các trường tiếp tục mở cửa an toàn. Cần phải dùng khẩu trang liên tục và đúng cách; duy trì việc giãn cách xã hội.

Ở tất cả mức lây truyền cộng đồng, chủ lao động nên phân công lại, làm việc từ xa hoặc các lựa chọn khác cho nhân viên đã được ghi nhận là có các bệnh có nguy cơ cao hoặc những người thuộc nhóm nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19 để hạn chế nguy cơ phơi nhiễm tại nơi làm việc. Khi những bệnh này là khuyết tật theo Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ, chủ lao động phải cung cấp nơi ở hợp lý do điều kiện khó khăn quá mức. Các lựa chọn phân công lại có thể bao gồm nhưng không giới hạn đối với cơ hội làm việc từ xa, dạy học trực tuyến, trách nhiệm công việc sửa đổi, sửa đổi về môi trường, khả năng linh hoạt trong việc lên thời gian biểu hoặc phân công lại tạm thời có các trách nhiệm công việc khác nhau. Tương tự như vậy những lựa chọn này nên được mở rộng cho nhân viên có người trong hộ gia đình có bệnh có nguy cơ cao hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng vì COVID-19. Các chính sách và quy trình giải quyết các vấn đề liên quan tới giáo viên và nhân viên khác có nguy cơ cao hơn mắc bệnh nghiêm trọng và áp dụng việc phân công lại, làm việc từ xa hoặc các lựa chọn khác để giảm thiểu nên được đưa ra có tham khảo ý kiến với chuyên gia về nguồn nhân lực và y tế nghề nghiệp có kiến thức về tình hình cụ thể, có lưu ýđ ến Cơ hội việc làm công bằng (EEO) và các lo ngại tiềm năng khác về pháp lý.

Đóng cửa trường học ngoài dự kiến

Bất chấp việc lên kế hoạch cẩn trọng và triển khai nhất quán các thành tố quan trọng của việc giảng dạy trực tiếp an toàn tại các trường K-12, một số tình huống có thể xảy ra dẫn tới việc các viên chức trường học cân nhắc đóng cửa trường học tạm thời hoặc một phần trường học (như một lớp hoặc một cấp học nào đó) sang giảng dạy trực tuyến, thường có tham khảo ý kiến với sở y tế công tại địa phương. Những quyết định này nên dược đưa ra dựa trên những cân nhắc cẩn trọng về một số yếu tố kèm việc nhấn mạnh để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của học sinh, gia đình học sinh, giáo viên và nhân viên. Trong những trường hợp như vậy, trường học nên nỗ lực cung cấp việc giảng dạy liền mạch qua các hoạt động học tập đồng bộ từ xa hoặc tại nhà.

Các lớp học hay trường học đang có bùng phát dịch có thể tạm thời dừng hoạt động học tập trực tiếp. Nếu trường học có bùng phát dịch, lãnh đạo trường học nên thông báo ngay lập tức với nhân viên y tế công cộng và hợp tác để hỗ trợ tăng cường xét nghiệm và truy dấu tiếp xúc khi cần thiết. Sở y tế địa phương có thể tạo thuận lợi cho việc xét nghiệm ở học sinh, giáo viên và nhân viên tại trường đang có bùng phát dịch. Sở y tế cũng có thể thực hiện truy dấu tiếp xúc trong những tình huống này. Các trường có thể hỗ trợ bằng cách cung cấp thông tin, trong chừng mực cho phép theo luật về quyền riêng tư và các luật hiện hành khác, để xác định những người tiếp xúc gần (vd. bảng phân công lớp học, sơ đồ chỗ ngồi và thông tin liên hệ khẩn cấp của học sinh) để có thể được xét nghiệm và cách ly hoặc cô lập.

Các trường trong khu vực thấy tỉ lệ mắc mới tăng nhanh hoặc liên tục hoặc đặt gánh nặng nghiêm trọng lên năng lực của ngành y tế. Lãnh đạo trường học và nhân viên y tế công cộng nên theo dõi các chỉ báo về lây truyền cộng đồng (Bảng 1) và xem xét các xu hướng theo thời gian. Tại các cộng đồng có tỉ lệ mắc mới tăng nhanh hoặc liên tục hoặc đặt gánh nặng nghiêm trọng lên năng lực của ngành y tế, lãnh đạo trường học có thể quyết định tạm thời đóng cửa trường học đối với hình thức giảng dạy trực tiếp cho đến khi mức lây truyền cộng đồng được ổn định.

Biến thể COVID-19 mới và chính sách giảm thiểu tại các trường học

Nhiều biến thể SARS-CoV-2 đang lưu hành trên toàn cầu. Điều này bao gồm một số biến thể mới đã phát hiện được tại Hoa Kỳ trong giai đoạn tháng 12, 2020 đến tháng 1, 2021. Một số biến thể trong số này gây lo ngại vì chúng dường như lây lan dễ hơn và nhanh hơn các biến thể khác, có thể làm gia tăng số ca bệnh COVID-19. Việc triển khai nghiêm ngặt và tuân thủ các chiến lược giảm thiểu đặc biệt quan trọng để kiểm soát lây lan các biến thể của SARS-CoV-2. Trong tình huống mức lây truyền cộng đồng tăng do biến thể của SARS-CoV-2, có thể cần cập nhật hướng dẫn này.

Việc tuân thủ nghiêm ngặt và gia tăng các chiến lược giảm thiểu về y tế công cộng, như tiêm chủng, sử dụng khẩu trang, giãn cách xã hội, vệ sinh và cách ly cũng như cô lập, sẽ đặc biệt quan trọng để hạn chế lây lan SARS-CoV-2 và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. CDC, phối hợp với các tổ chức y tế công cộng khác, đang theo dõi chặt chẽ tình hình và nghiên cứu những biến thể này nhanh chóng để tìm cách kiểm soát sự lây lan của chúng. Khi có thêm nhiều thông tin, có khả năng các chiến lược giảm thiểu và hướng dẫn cho trường học có thể cần được điều chỉnh theo bằng chứng mới về nguy cơ lây truyền và tính hiệu quả của việc giảm thiểu.

Những điều cần lưu ý liên quan tới công bằng về y tế trong hoạt động giảm thiểu theo giai đoạn

  • Các trường học phục vụ nhóm học sinh có nguy cơ thất học cao hơn trong khi giảng dạy qua mạng (vd. do khả năng tiếp cận công nghệ hạn chế hơn) nên được ưu tiên để tái mở cửa và cung cấp nguồn lực cần thiết để triển khai các chiến lược giảm thiểu và xét nghiệm.
  • Khi triển khai việc giảm thiểu theo giai đoạn trong các chế độ học tập hỗn hợp, các trường học nên cân nhắc việc ưu tiên giảng dạy trực tiếp cho học sinh bị khuyết tật, những người đòi hỏi sự giảng dạy đặc biệt và các dịch vụ liên quan được cung cấp trực tiếp trong môi trường học đường, cũng như các học sinh khác, những người có thể hưởng lợi từ việc được giảng dạy căn cơ trong môi trường học đường.
  • Các trường nên xây dựng kế hoạch tiếp tục cung cấp dịch vụ bữa ăn như bữa sáng và bữa trưa miễn phí cho các gia đình cho mọi giai đoạn và chế độ học tập, bao gồm học tập trực tiếp, hỗn hợp và qua mạng.

Ngăn ngừa COVID-19 bổ sung tại các trường học

Xét Nghiệm

Các chiến lược xét nghiệm vi-rút hợp tác với trường học nên là một phần của  phương thức giảm thiểu toàn diện. Không nên dùng riêng xét nghiệm mà có kết hợp với các thành tố giảm thiểu khác nhằm giảm nguy cơ lây truyền tại trường học. Khi các trường triển khai xét nghiệm kết hợp các chiến lược giảm thiểu, họ có thể phát hiện các ca mới để ngăn bùng phát dịch, giảm nguy cơ lây truyền thêm và bảo vệ học sinh, giáo viên và nhân viên khỏi COVID-19.

Xét Nghiệm Chẩn Đoán

Ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng, các trường nên cung cấp giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán cho học sinh, giáo viên hoặc thành viên gia đình có các triệu chứng về COVID-19 tại trường học. Xét nghiệm chẩn đoán về SARS-CoV-2 được dùng để xác định tỉ lê nhiễm SARS-CoV-2 ở mức cá nhân và được thực hiện khi có lý do nghi ngờ rằng một cá nhân có thể bị nhiễm bệnh, như có các triệu chứng hoặc nghi ngờ có phơi nhiễm gần đây. Các ví dụ về chiến lược xét nghiệm chẩn đoán bao gồm xét nghiệm giáo viên, học sinh và nhân viên có triệu chứng mà bộc lộ các triệu chứng tại trường học và xét nghiệm các cá nhân không có triệu chứng đã phơi nhiễm với người đã xác nhận hoặc nghi nhiễm COVID-19. Câu hỏi thường gặp về xét nghiệm SARS-CoV-2external icon của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ (FDA) cũng đề cập tới việc xét nghiệm chẩn đoán SARS-CoV-2. Những điều cần lưu ý bổ sung để xét nghiệm chẩn đoán:

  • Các trường nên khuyên giáo viên, nhân viên và học sinh ở nhà nếu họ bị bệnh hoặc nếu họ bị phơi nhiễm với SARS-CoV-2. Các trường có thể khuyến khích những cá nhân này trao đổi với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ về việc xét nghiệm SARS-CoV-2 tại cơ sở y tế hoặc y tế công.
  • Nếu có học sinh, giáo viên hoặc nhân viên bị bệnh tại trường hoặc báo cáo ca chẩn đoán COVID-19 mới, các trường nên làm theo các bước của Lưu đồ chẩn đoán COVID-19 về những việc cần làm tiếp theo. Điều này bao gồm việc thông báo với phụ huynh hoặc người giám hộ của học sinh và bắt đầu chiến lược xét nghiệm. Thông báo phải có sẵn để toàn bộ học sinh, phụ huynh hoặc người giám hộ, bao gồm những người bị khuyết tật hoặc có trình độ tiếng Anh hạn chế (vd. qua việc dùng phiên dịch hoặc tài liệu đã chuyển ngữ).
  • Tại một số trường học, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại trường học (vd. y tá trường học) có thể thực hiện xét nghiệm kháng nguyên SARS-CoV-2 tại các trung tâm y tế tại trường nếu họ được đào tạo để thu thập mẫu xét nghiệm, thực hiện xét nghiệm theo hướng dẫn của nhà sản xuất và xin chứng nhận miễn trừexternal icon theo tiêu chuẩn của Bản sửa đổi cải tiến về phòng thí nghiệm lâm sàng (CLIA). Một số chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại trường học cũng có thể có khả năng thực hiện việc thu thập mẫu xét nghiệm để gửi tới phòng thí nghiệm để xét nghiệm, nếu được đào tạo về thu thập mẫu xét nghiệm mà không có chứng nhận của CLIA. Điều quan trọng là các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại trường học có thể tiếp cận và đào tạo về cách sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (PPE) đúng cách.
  • Không phải trường nào hoặc nhân viên y tế tại trường nào cũng có nhân viên, nguồn lực hoặc được đào tạo để tiến hành xét nghiệm. Nhân viên y tế công cộng nên làm việc với các trường để giúp liên kết học sinh, gia đình họ, giáo viên và nhân viên với các cơ hội khác để xét nghiệm tại cộng đồng của họ. Có thể cung cấp xét nghiệm bằng cách giới thiệu tới các địa điểm xét nghiệm tại cộng đồng, thông qua việc phối hợp với bộ phận y tế công cộng địa phương hoặc thông qua địa điểm xét nghiệm tập trung do học khu cung cấp.

Việc xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào bên dưới thường gợi ý rằng một học sinh, giáo viên hoặc nhân viên có bệnh lây nhiễm và không nên đến trường, bất kể bệnh đó có phải là  COVID-19 hay không. Đối với học sinh, nhân viên và giáo viên có bệnh mãn tính, việc xuất hiện triệu chứng sẽ thể hiện sự thay đổi so với tình trạng sức khỏe thường thấy của họ để đảm bảo họ không được tới trường học. Việc xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào bên dưới khi học sinh, giáo viên hoặc nhân viên ở tại trường gợi ý rằng người đó có thể được giới thiệu để xét nghiệm chẩn đoán.

  • Nhiệt độexternal icon 100,4 độ Fahrenheit trở lên
  • Đau họng
  • Ho (đối với học sinh bị ho mãn tính do dị ứng hoặc hen suyễn, sự thay đổi trong tình trạng ho của họ so với chuẩn ban đầu)
  • Khó thở (đối với học sinh bị hen suyễn, sự thay đổi trong tình trạng thở chuẩn ban đầu của họ)
  • Tiêu chảy hoặc nôn mửa
  • Mới mất vị giác hoặc khứu giác
  • Khởi phát triệu chứng mới là đau đầu dữ dội, đặc biệt là kèm sốt.

Học sinh không nên tới trường trực tiếp nếu chúng hoặc người chăm sóc chúng nhận thấy diễn biến mới của bất kỳ triệu chứng nào ở trên.

Các trường có thể cung cấp lựa chọn để tách riêng học sinh có các triệu chứng của COVID-19 hoặc bị nghi hay được xác nhận chẩn đoán đã mắc COVID-19 bằng cách, ví dụ, đưa học sinh vào phòng/khu vực cách ly đến khi có thể thu xếp phương tiện vận chuyển để đưa chúng về nhà hoặc cần được chăm sóc y tế khẩn cấp.

Nếu chẩn đoán COVID-19 được xác nhận, các trường có thể hỗ trợ nhân viên y tế công cộng trong việc xác định người tiếp xúc gần hoặc những người có khả năng phơi nhiễm khác trong môi trường học đường có thể đi xét nghiệm và đi cách ly hoặc cô lập (xem Bảng 4). Các trường có thể hỗ trợ bằng cách cung cấp thông tin, khi phù hợp, để xác định danh tính người tiếp xúc gần (vd. bảng phân công lớp học, sơ đồ chỗ ngồi và thông tin hỗ trợ liên hệ với các đối tượng tiếp xúc đó).

Bảng 4. Phương thức phân tầng xét nghiệm chẩn đoán về SARS-CoV-21,2

 

Bảng 4. Phương thức phân tầng xét nghiệm chẩn đoán về SARS-CoV-2*
Các học sinh có triệu chứng nhiễm COVID-19

Giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán

Học sinh, giáo viên hoặc nhân viên có các triệu chứng của COVID-19 tại trường học ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng.
  • Những người có kết quả xét nghiệm dương tính nên về nhà họ và cô lập cho đến khi họ đáp ứng các tiêu chí để chấm dứt cô lập.
  • Những người có các triệu chứng nên được cô lập khỏi những người khác ngay khi các triệu chứng xuất hiện và được đưa về nhà. Những người có kết quả xét nghiệm dương tính nên tiếp tục cô lập đến khi họ đáp ứng cả ba tiêu chí để chấm dứt cô lập: 10 ngày đã qua từ khi bắt đầu khởi phát triệu chứng; ít nhất 24 giờ đã qua từ khi ngừng sốt mà không cần dùng thuốc; và các triệu chứng khác đã cải thiện. CDC không khuyến nghị rằng mọi người nên được xét nghiệm lại trước khi dừng cô lập vì những người đã khỏi bệnh có thể xét nghiệm dương tính trong vài tuần mà không truyền nhiễm bệnh. Nếu một người có các triệu chứng mà xét nghiệm âm tính, họ vẫn nên ở nhà cho đến khi các triệu chứng của họ chấm dứt để tránh lây lan bất kỳ bệnh lây nhiễm nào - vi-rút corona hoặc bệnh khác.
Người tiếp xúc gần

Giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán

Học sinh, giáo viên hoặc nhân viên đã tiếp xúc với người được chẩn đoán nhiễm COVID-19, được xác định là những người ở trong khoảng cách 6 feet với người đã nhiễm bệnh trong tổng thời gian 15 phút trở lên trong khoảng thời gian 24 giờ bắt đầu từ 2 ngày trước khi bệnh khởi phát (hoặc đối với người không có triệu chứng, 2 ngày trước ngày người nhiễm COVID-19 được xét nghiệm). Định nghĩa về một người tiếp xúc gần áp dụng bất kể việc người đó có đeo khẩu trang hay không.
  • Bất kể kết quả xét nghiệm ra sao, những người tiếp xúc gần cần cách ly trong 14 ngày. Dựa vào nguồn lực và tình hình ở địa phương, lựa chọn rút ngắn thời gian cách ly cung cấp các biện pháp thay thế có thể chấp nhận về việc cách ly 10 ngày hoặc cách ly 7 ngày kết hợp với xét nghiệm.
  • Dể giảm thiểu tác động của việc cách ly khi giảng dạy, các trường nên hạn chế khả năng phơi nhiễm giữa các cụm và lớp học (vd. giáo viên nên hạn chế tiếp xúc gần với giáo viên khác và với học sinh không ở trong lớp học của chính họ).
Tiếp xúc tiềm năng

 

Các trường có thể cân nhắc việc xét nghiệm sàng lọc cho những người có khả năng đã tiếp xúc.

Học sinh, giáo viên và nhân viên ở cùng lớp học, cụm hoặc nhóm với người nhiễm COVID-19, người luôn giữ khoảng cách tối thiểu 6 feet giữa mọi người. Ví dụ, đối tượng này bao gồm những người trong tình huống sau:
  • Học sinh ở cùng lớp học nhưng không ở trong khoảng cách 6 feet trong tổng cộng 15 phút trở lên.
  • Học sinh, giáo viên hoặc nhân viên ở cùng hành lang nhưng không dùng chung lớp học hoặc phòng vệ sinh với người nhiễm COVID-19.
  • Học sinh di chung xe buýt nhưng ở cách xa 6 feet với những ngươi khác tại cùng thời điểm với người nhiễm COVID-19.
Các cá nhân có khả năng bị phơi nhiễm

 

Các trường có thể cân nhắc việc xét nghiệm sàng lọc cho những người có khả năng đã phơi nhiễm.

Học sinh, giáo viên và nhân viên cùng chia sẻ một không gian chung (vd. phòng chờ của giáo viên, thư viện) và không dùng chung không gian cùng thời điểm với người nhiễm COVID-19, nhưng không thể loại trừ khả năng có khoảng thời gian ngắn phơi nhiễm (<15 phút) với người đã xác nhận nhiễm COVID-19.
  • Ví dụ, điều này bao gồm những người có mặt tại trường vào những lịch trình khác và ở những phòng khác với người được xác nhận nhiễm COVID-19 nhưng việc phơi nhiễm không thể bị loại trừ hoàn toàn.

1Các cấp ở trên dùng để áp dụng cho thành tố Xét nghiệm chẩn đoán trên tất cả các mức lây truyền cộng đồng: thấp (màu xanh), trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và đỏ (màu đỏ).

2 Nên cung cấp thông tin với mức bảo vệ phù hợp nhằm bảo vệ thông tin có thể nhận dạng cá nhân và thông tin nhạy cảm-HIPPA khỏi bị phát tán bất hợp pháp.

Đối với xét nghiệm chẩn đoán, việc chọn xét nghiệm nên ưu tiên xét nghiệm có kết quả chính xác cao cùng độ nhạy và đặc hiệu cao như NAAT. Khuyến nghị giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán cho học sinh, giáo viên và nhân viên đang có triệu chứng của COVID-19 tại trường học và cho những người tiếp xúc gần ở tất cả các mức lây truyền cộng đồng. Học sinh, giáo viên và nhân viên đã thực hiện xét nghiệm chẩn đoán nên được cô lập khỏi người khác và cách ly tại nhà cho đến khi nhận được kết quả xét nghiệm. Thời gian có kết quả xét nghiệm chẩn đoán phụ thuộc vào loại xét  nghiệm. Năng lực địa phương trong việc xét nghiệm chẩn đoán nên đảm bảo rằng các ca bệnh và người tiếp xúc phải được xét nghiệm và kết quả gửi trả trong vòng 48 giờ. Ở các mức lây truyền cộng đồng thấp (màu xanh), các trường nên giới thiệu học sinh, giáo viên và nhân viên có các triệu chứng hoặc lịch sử gần đây tiếp xúc gần với ca đã xác nhận với xét nghiệm chẩn đoán để xác định hoặc loại bỏ tình trạng nhiễm SARS-CoV-2. Ở các mức trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và cao (màu đỏ) và ở mức thấp (màu xanh) cho giáo viên và nhân viên, việc giới thiệu đi xét nghiệm chẩn đoán được kết hợp với xét nghiệm sàng lọc để theo dõi tình trạng gia tăng tỉ lệ lây nhiễm.

Đối với học sinh, giáo viên và nhân viên đã nhận được kết quả xét nghiệm dương tính trước đó và không có các triệu chứng của COVID-19, không khuyến nghị xét nghiệm lại trong tối đa 3 tháng kể từ lần cuối cùng nhận được kết quả xét nghiệm dương tính. Dữ liệu hiện tại cho thấy một số cá nhân xét nghiệm dương tính liên tục do vật chất vi-rút còn sót lại nhưng không có khả năng lây nhiễm. Các phụ huynh hoặc người giám hộ có thể yêu cầu giấy tờ từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho thấy rõ ngày và loại xét nghiệm COVID-19 gần đây nhất của học sinh. Hướng dẫn về các chiến lược xét nghiệm cho các cá nhân đã được tiêm vắc-xin đầy đủ sẽ được cung cấp sau khi có thêm thông tin.

Xét nghiệm sàng lọc

Một số trường học cũng có thể chọn dùng xét nghiệm sàng lọc như chiến lược xác định các ca bệnh và ngăn chặn lây truyền thứ cấp. Xét nghiệm sàng lọc liên quan tới việc dùng loại xét nghiệm vi-rút SARS-CoV-2 (xét nghiệm chẩn đoán dùng cho mục đích sàng lọc) dùng để xác định tỉ lệ xuất hiện bệnh ở cấp cá nhân dù không có lý do để nghi nhiễm, ví dụ như không có phơi nhiễm đã biết. Điều này bao gồm nhưng không giới hạn đối với việc xét nghiệm sàng lọc các cá nhân không có triệu chứng không có phơi nhiễm đã biết với mục đích ra quyết định dựa vào kết quả xét nghiệm. Xét nghiệm sàng lọc dùng để xác định các cá nhân nhiễm bệnh mà không có các triệu chứng (hoặc trước khi bộc lộ các triệu chứng), những người có thể truyền nhiễm vì vậy có thể thực hiện các biện pháp để ngăn chặn lây truyền thêm. Các ví dụ về sàng lọc bao gồm xét nghiệm hàng tuần tại nơi làm việc để xét nghiệm cho nhân viên và các kế hoạch xét nghiệm được nhà trường xây dựng để xét nghiệm cho học sinh, giáo viên và nhân viên. Trong cả hai ví dụ, mục đích là dùng kết quả xét nghiệm sàng lọc để xác định người có thể trực tiếp quay lại trường học hoặc nơi làm việc cùng các biện pháp bảo vệ sẽ được thực hiện hoặc xác định danh tính và cô lập những người có kết quả xét nghiệm dương tính để ngăn ngừa lây lan bệnh. Câu hỏi thường gặp về xét nghiệm đối với SARS-CoV-2external icon của FDA cũng đề cập tới việc xét nghiệm sàng lọc SARS-CoV-2.

Xét nghiệm sàng lọc đặc biệt có giá trị ở những nơi có lây truyền cộng đồng ở mức trung bình, đáng kể và cao. Xét nghiệm sàng lọc cho các trường K-12 có thể cho phép các trường thay đổi giữa các chiến lược xét nghiệm khác nhau khi tỉ lệ nhiễm bệnh trong cộng đồng (và từ đó đánh giá nguy cơ) thay đổi. Khi nguy cơ giảm nhưng khả năng có nhiều người bị nhiễm bệnh tại trường học vẫn ở mức cao, xét nghiệm sàng lọc thường kỳ có thể dùng để giúp xác định bệnh và hạn chế bùng phát dịch.

Đối với các trường triển khai xét nghiệm sàng lọc mở rộng, việc xét nghiệm sàng lọc nên được cung cấp tại những nơi có mức độ lây truyền cộng đồng ở mức trung bình (màu vàng), đáng kể (màu cam) và cao (màu đỏ) cho học sinh, giáo viên và nhân viên, ở mức thấp (màu xanh) cho giáo viên và nhân viên không có triệu chứng và không bị phơi nhiễm đã biết. Xét nghiệm sàng lọc có thể xác định sớm các ca bệnh và có thể giảm thiểu khả năng lây truyền thứ cấp. Xét nghiệm sàng lọc có thể đặc biệt hữu ích ở các khu vực có mức lây truyền cộng đồng ở mức trung bình tới cao. Việc đạt được mức giảm lây truyền bệnh đáng kể bằng xét nghiệm đòi hỏi phải xét nghiệm thường xuyên và thời gian đình trệ ngắn hơn từ lúc thực hiện xét nghiệm đến khi báo cáo kết quả, điều khó có thể thực hiện ở mọi học khu.

Các trường có thể cân nhắc việc dùng xét nghiệm tổng hợp làm chiến lược xét nghiệm sàng lọc cho học sinh. Xét nghiệm tổng hợp là trộn lẫn một số mẫu từ các cá nhân khác nhau cùng trong một "lô" hoặc mẫu tổng hợp, sau đó xét nghiệm mẫu tổng hợp này bằng xét nghiệm chẩn đoán. Phương thức này tăng số cá nhân có thể được xét nghiệm và giảm nhu cầu về nguồn lực xét nghiệm23-24. Phương thức này có thể đặc biệt hữu ích trong các trường dùng "cụm" hoặc đoàn hệ. Vì tính phức tạp của việc xử lý kết quả dương tính, xét nghiệm tổng hợp được dùng tốt nhất trong các tình huống khi số kết quả dương tính được dự kiến là rất thấp. Các cụm có thể được thiết lập trong các nhóm lớp, như tất cả học sinh trong một cấp lớp cụ thể hoặc trong các nhóm lớp tương tự (vd K-lớp 2; lớp 3-5). Các trường có thể có phương thức thay thể để gán các cụm dựa vào các vấn đề cần lưu ý của cơ sở và hình thức giảng dạy. Nếu phát hiện thấy một ca dương tính được xác nhận, những người tiếp xúc gần của bất kỳ ai trong cụm đó nên được cách ly và xét nghiệm.

Viên chức trường học đưa ra quyết định về các trường học ở những khu vực có mức lây truyền cộng đồng trung bình, đáng kế hoặc cao có thể áp dụng chương trình sàng lọc thường xuyên để ngăn ngừa lây nhiễm lan rộng trong trường học. Việc đạt được mức giảm lây truyền bệnh đáng kể đòi hỏi phải xét nghiệm thường xuyên hơn và thời gian đình trệ ngắn hơn từ lúc thực hiện xét nghiệm đến khi báo cáo kết quả. Khi kết hợp cùng các biện pháp giảm thiểu như dùng khẩu trang, giãn cách xã hội và những biện pháp khác, các giao thức xét nghiệm có thể là công cụ hiệu quả trong việc giảm lây truyền. Xét nghiệm sàng lọc có thể được thực hiện trực tiếp tại cơ sở trường học (xem phần Những điều cần lưu ý về tính khả thi bên dưới) tại vị trí trung tâm qua học khu hoặc qua giới thiệu tới nhà cung cấp dịch vụ xét nghiệm tại cộng đồng.

  • Lây truyền cộng đồng trung bình (màu vàng) và đáng kể (màu cam): học sinh, giáo viên và nhân viên tham gia xét nghiệm sàng lọc thường xuyên để giảm nguy cơ lây truyền trong trường học.
    • Giáo viên và nhân viên tham gia vào xét nghiệm sàng lọc thường kỳ ít nhất mỗi tuần một lần ​​​​​​. Tại các khu vực có mức lây truyền cộng đồng đáng kể và cao, xét nghiệm sàng lọc một tuần hai lần​​​ có thể phù hợp hơn để nhanh chóng phát hiện các ca bệnh trong giáo viên và nhân viên.
    • Học sinh tại các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tham gia vào xét nghiệm sàng lọc thường kỳ hàng tuần. Nếu phát hiện thấy ca dương tính được xác nhận, mọi người tiếp xúc gần sẽ được cách ly và xét nghiệm.
    • Các trường có thể cân nhắc xét nghiệm mẫu lấy ngẫu nhiên của ít nhất 10% học sinh Ví dụ, một trường có thể chọn ngẫu nhiên 20% học sinh mỗi tuần để xét nghiệm trong toàn bộ số học sinh tham gia học trực tiếp. Hoặc trường học có thể chọn một cụm cho mỗi cấp lớp mỗi tuần để xét nghiệm. Các chiến lược khác để lựa chọn ngẫu nhiên có thể dùng dựa vào sự phù hợp nhất cho một chiến lược xét nghiệm sàng lọc của trường.
  • Lây truyền cộng đồng cao (màu đỏ): học sinh, giáo viên và nhân viên tham gia xét nghiệm sàng lọc thường xuyên để giảm nguy cơ lây truyền trong trường học.
    • Giáo viên và nhân viên tại các trường tiểu học tham gia xét nghiệm sàng lọc thường kỳ hàng tuần. Tại các khu vực có mức lây truyền cộng đồng đáng kể và cao, xét nghiệm sàng lọc một tuần hai lần​​​ có thể phù hợp hơn để nhanh chóng phát hiện các ca bệnh trong giáo viên và nhân viên.
    • Học sinh tại các trường tiểu học tham gia vào xét nghiệm sàng lọc thường kỳ hàng tuần, như mô tả ở trên cho mức lây truyền trung bình (màu vàng) và đáng kể (màu cam).

Khi cân nhắc nên dùng loại xét nghiệm nào để xét nghiệm sàng lọc, các trường hoặc đối tác xét nghiệm của họ nên chọn các xét nghiệm có thể được cung cấp một cách đáng tin cậy và có kết quả trong vòng 24 giờ. NAAT là các xét nghiệm có độ nhạy cao để phát hiện a-xít nucleic của SARS-CoV-2. Hầu hết các NAAT cần được xử lý trong phòng thí nghiệm với thời gian có kết quả khác nhau (có thể là 1-3 ngày), nhưng một số NAAT là các xét nghiệm tại điểm chăm sóc với kết quả có sẵn trong khoảng 15 phút. Xét nghiệm tổng hợp, theo đó ban đầu các mẫu từ nhiều người được kết hợp lại với nhau, có thể giảm chi phí và thời gian trả kết quả. Những điều này có thể được cân nhắc cho xét nghiệm sàng lọc hàng tuần tại các khu vực có mức lây truyền cộng đồng trung bình (màu vàng).

Các xét nghiệm kháng thể thường ít nhạy hơn so với NAAT đối với chẩn đoán lâm sàng và hầu hết có thể tiến hành tại điểm chăm sóc và có kết quả trong khoảng 15 phút. Kết quả xét nghiệm kháng nguyên có thể cần xác nhận bằng NAAT, như xét nghiệm âm tính từ một người có các triệu chứng bệnh và xét nghiệm dương tính từ một người không có các triệu chứng bệnh. Các trường học nên làm việc với sở y tế để xây dựng kế hoạch xác nhận và giới thiệu trước khi tiến hành xét nghiệm. Tính nhanh chóng có kết quả (kết quả xét nghiệm có trong 15-30 phút), chi phí khiêm tốn và tính khả thi trong việc triển khai xét nghiệm kháng nguyên giúp chúng trở thành một lựa chọn hợp lý cho hoạt động xét nghiệm sàng lọc tại trường học. Do tính khả thi và dễ chấp nhận, các xét nghiệm có sử dụng tăm bông (mũi trước) làm cho các loại xét nghiệm này trở nên dễ thực hiện hơn ở môi trường học đường. Các xét nghiệm dùng mẫu xét nghiệm nước bọt cũng có thể là biện pháp thay thế chấp nhận được đối với trẻ nhỏ tuổi hơn, nếu xét nghiệm có sẵn và kết quả được trả về trong vòng 24 giờ.

Tính đến khả năng về vật tư để xét nghiệm sàng lọc có sẵn còn hạn chế hoặc tính khả thi về việc triển khai xét nghiệm sàng lọc, các trường có thể cân nhắc dùng chiến lược ưu tiên. Khi xác định những cá nhân nào nên được chọn để xét nghiệm sàng lọc, các trường học và nhân viên y tế công có thể cân nhắc ưu tiên giáo viên và nhân viên so với học sinh vì người lớn có nguy cơ gặp hệ quả bệnh nghiêm trọng cao hơn. Khi chọn lọc học sinh, các trường và nhân viên y tế công có thể ưu tiên học sinh trung học phổ thông, tiếp đến học sinh trung học cơ sở và sau cùng là học sinh tiểu học, thể hiện tỉ lệ nhiễm bệnh cao hơn trong số trẻ vị thành niên so với trẻ nhỏ tuổi hơn.

Báo cáo kết quả xét nghiệm

Mọi cơ sở xét nghiệm COVID-19 đều cần phải báo cáo với  nhân viên y tế cơ sở hoặc tiểu bang phù hợp toàn bộ kết quả xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán đã thực hiện. Các trường sử dụng xét nghiệm kháng nguyên phải nộp đơn và nhận chứng nhận miễn trừ theo tiêu chuẩn của Bản sửa đổi cải tiến phòng thí nghiệm (CLIA)external icon và báo cáo kết quả xét nghiệm cho sở y tế công cộng tiểu bang hoặc địa phương như theo yêu cầu của Đạo luật về viện trợ, cứu trợ và ổn định kinh tế (CARES) liên quan tới vi-rút Corona.

Các phụ huynh nên được yêu cầu báo cáo các ca dương tính với trường học để tạo điều kiện truy dấu tiếp xúc và đảm bảo thông tin liên lạc và lên kế hoạch tại trường học. Ngoài ra, các nhà quản lý trường học nên thông báo với nhân viên, giáo viên, gia đình và người liên hệ khẩn cấp hoặc người giám hộ hợp pháp ngay về bất kỳ ca bệnh COVID-19 nào mà vẫn giữ bảo mật thông tin phù hợp với Đạo luật về trách nhiệm giải trình và cung cấp thông tin bảo hiểm 1996 (HIPAAexternal icon), Đạo luật người khuyết tật Hoa Kỳ (ADAexternal icon) và Đạo luật về Quyền riêng tư và Quyền giáo dục Gia đình (FERPApdf iconexternal icon) cũng như các quy định và luật hiện hành khác. Thông báo phải có sẵn để toàn bộ học sinh, giáo viên và nhân viên đều có thể tiếp cận, bao gồm cả những người khuyết tật hoặc có trình độ tiếng Anh hạn chế (vd. qua việc dùng phiên dịch hoặc tài liệu đã chuyển ngữ).

Những điều cần lưu ý liên quan tới công bằng về y tế trong xét nghiệm tại trường học

Nhân viên y tế công cộng và các nhà quản lý trường học có thể cân nhắc ưu tiên cao hơn việc tiếp cận xét nghiệm tại trường học phục vụ nhóm học sinh gặp phải các gánh nặng không tương xứng về các ca bệnh COVID-19 hay bệnh nghiêm trọng. Những trường này bao gồm:

  • Các trường trong cộng đồng có tỉ lệ ca bệnh COVID-19 cao một cách không tương xứng liên quan tới quy mô dân số, bao gồm các cộng đồng có tỉ lệ các nhóm chủng tộc và dân tộc có số dân trung bình hoặc đông như Người Mỹ Da Đỏ/ Người Alaska Bản Địa, Người Da Đen và gốc nói tiếng Tây Ban Nha.
  • Các trường tại khu vực địa lý có khả năng tiếp cận hạn chế với dịch vụ xét nghiệm do khoảng cách hoặc thiếu bộ xét nghiệm25.

Những điều cần lưu ý về đạo đức đối với xét nghiệm tại trường

Xét nghiệm nên được cung cấp trên cơ sở tự nguyện. Việc thực hiện xét nghiệm người không muốn được xét nghiệm là vô đạo đức và có khả năng trở thành bất hợp pháp, bao gồm cả học sinh có phụ huynh hoặc người giám hộ không muốn cho chúng đi xét nghiệm.  Đừng bao giờ thực hiện xét nghiệm trong trường học mà chưa có sự chấp thuận từ phụ huynh hoặc người giám hộ hợp pháp (đối với học sinh nhỏ tuổi) hoặc từ cá nhân (đối với người lớn, bao gồm học sinh trưởng thành, giáo viên và nhân viên). Cũng có thể cân nhắc tới việc phê chuẩn cho học sinh nhỏ tuổi. Các trường học nên có kế hoạch truyền thông để thông báo với nhân viên y tế địa phương, nhân viên và các gia đình ngay lập tức về bất kỳ ca bệnh COVID-19 nào trong khi vẫn duy trì tính bảo mật của thông tin phù hợp với Đạo luật về người khuyết tật Hoa Kỳ (ADA)external iconĐạo luật về Quyền riêng tư và Quyền giáo dục Gia đình  (FERPA)external icon, Bản sửa đổi bảo vệ quyền của học sinh (PPRA)external icon và các quy định, luật hiện hành khác.  Khuyến nghị hợp tác với bộ phận tư vấn, giáo dục và/hoặc y tế công cộng địa phương nhằm đảm bảo có được và duy trì sự đồng ý phù hợp, các kết quả được lưu trữ theo quyền riêng tư và tính bảo mật thông tin phù hợp.

Những điều cần lưu ý trước khi bắt đầu BẤT KỲ chiến lược xét nghiệm nào

Trước khi triển khai xét nghiệm tại trường của họ, các nhà quản lý trường K-12 nên phối hợp với nhân viên y tế công cộng nhằm đảm bảo có được sự ủng hộ về phương thức này từ học sinh, phụ huynh, giáo viên và nhân viên và chuẩn bị sẵn sàng các thành tố chính.

  • Nguồn lực và cơ sở hạ tầng riêng để hỗ trợ việc xét nghiệm tại trường học.
  • Sử dụng các xét nghiệm được FDA cho phép cho mục đích sử dụng cụ thể (nghĩa là sàng lọc, tổng hợp) và cơ chế có sẵn để nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã được cấp phép chỉ định/đặt hàng xét nghiệm.
  • Yêu cầu chứng nhận miễn trừ CLIA để thực hiện xét nghiệm tại trường học bằng xét nghiệm được EUA cho phép.
  • Cơ chế báo cáo toàn bộ kết quả xét nghiệm (cả âm tính và dương tính) theo như yêu cầu của sở y tế STLT.
  • Cách để xin biên bản chấp thuận từ phụ huynh đối với học sinh là trẻ vị thành niên và sự đồng thuận/chấp thuận từ chính học sinh.
  • Không gian để tiến hành xét nghiệm an toàn và riêng tư.
  • Khả năng duy trì tính bảo mật kết quả xét nghiệm và bảo vệ quyền riêng tư của học sinh.
  • Các kế hoạch nhằm đảm bảo quyền tiếp cận xét nghiệm xác nhận khi cần thiết thông qua sở y tế STLT cho những người có triệu chứng và có kết quả xét nghiệm âm tính và những người không có triệu chứng nhưng có kết quả xét nghiệm dương tính.

Nếu không có sẵn những thành tố này, các trường có thể cân nhắc chiến lược xét nghiệm dựa vào sự giới thiệu khi hợp tác với nhân viên y tế công cộng.

Các trường học nên hợp tác với nhân viên y tế công cộng STLT để quyết định về việc xét nghiệm và cách sử dụng xét nghiệm. Các trường học K-12 do chính quyền liên bang vận hành (vd. cho hoạt động giáo dục của Bộ Quốc Phòng (DoDEA), chuyên vận hành các trường K-12 cho đối tượng phụ thuộc DoD) nên hợp tác với nhân viên y tế liên bang. Ngoài luật của tiểu bang và địa phương, các nhà quản trị trường học nên làm theo hướng dẫn từ Ủy Ban Cơ Hội Việc Làm Bình Đẳng Hoa Kỳexternal icon và luật liên bang hiện hành khi cung cấp xét nghiệm cho cơ sở, nhân viên và học sinh là những người đang được trường K-12 tuyển dụng.

Những điều cần lưu ý về tính khả thi và những thách thức khi xét nghiệm tại trường học

Những thách thức này cần được cân nhắc kỹ lưỡng và khắc phục như một phần của các kế hoạch xét nghiệm tại trường học được hợp tác phát triển cùng các nhân viên y tế công cộng.

  • Tại một số trường, nhân viên y tế tại trường học (vd. y tá trường học) có thể thực hiện xét nghiệm vi-rút COVID-19 nếu trường học hoặc cơ sở xét nghiệm nhận được chứng nhận miễn trừexternal icon theo bản Sửa đổi Cải tiến Phòng thí nghiệm Lâm sàng (CLIA). Một số chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại trường học cũng có thể có khả năng thực hiện việc thu thập mẫu xét nghiệm để gửi tới phòng thí nghiệm để xét nghiệm, nếu được đào tạo về thu thập mẫu xét nghiệm mà không có chứng nhận của CLIA. Điều quan trọng là các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại trường học có thể tiếp cận và đào tạo về cách sử dụng trang bị bảo hộ cá nhân (PPE) đúng cách. Các cơ sở nên biết về FDA EUAexternal icon về xét nghiệmexternal icon kháng nguyên và quyền tự quyết thực thi của Trung tâm Medicare & Medicaid (của CMS)pdf iconexternal icon liên quan tới chứng nhận miễn trừ của CLIAexternal icon khi dùng xét nghiệm cho những người không có triệu chứng.
  • Không phải mọi hệ thống trường học đều có nhân viên, nguồn lực hoặc được đào tạo (bao gồm chứng nhận miễn trừ của CLIA) để thực hiện xét nghiệm. Nhân viên y tế công cộng nên làm việc với các trường để giúp liên kết học sinh, gia đình họ, giáo viên và nhân viên với các cơ hội khác để xét nghiệm tại cộng đồng của họ.
  • Việc xét nghiệm tại trường học có thể đòi hỏi mức độ phối hợp cao và trao đổi thông tin giữa các sở y tế, trường học và các gia đình.
  • Cũng có thể có các yếu tố pháp lý và quy định cần lưu ý với việc xét nghiệm trực tiếp tại trường liên quan tới người sẽ ra chỉ định xét nghiệm, người sẽ thực hiện xét nghiệm, cách thức các xét nghiệm đó được chi trả và cách báo cáo kết quả. Các yếu tố đó bao gồm luật pháp của địa phương hoặc tiểu bang xác định những dịch vụ mà y tá trường học và các nhân viên y tế khác tại trường được phép cung cấp, cũng như luật hiện hành về quyền riêng tư.
  • Các lợi ích của việc xét nghiệm tại trường cần được cân nhắc so với chi phí, sự bất tiện và tính khả thi của những chương trình như vậy đối với cả trường học và các gia đình.
  • Các xét nghiệm kháng nguyên thường cung cấp kết quả chẩn đoán lây nhiễm SARS-CoV-2 hiện hoạt nhanh hơn NAAT, nhưng các xét nghiệm kháng nguyên có khả năng bỏ sót trường hợp nhiễm hiện hoạt cao hơn ngay cả ở các cá nhân có triệu chứng và xét nghiệm phân tử xác nhận có thể được khuyên dùng.

Tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên cũng như trong các cộng đồng ngay khi nguồn cung cho phép

Vắc-xin là công cụ quan trọng giúp chặn đứng đại dịch COVID-19. Các nhân viên y tế STLT là nguồn lực tốt nhất để giải đáp các thắc mắc về thời điểm và địa điểm nhân viên trường học có thể được tiêm chủng tại mỗi tiểu bang, vùng lãnh thổ hoặc khu vực phân quyền. Hiện các vắc-xin được FDA cho phép sử dụng và đang được phân bổ giúp bảo vệ chống lại COVID-19. Mục tiêu cuối cùng là cung cấp vắc-xin cho toàn bộ người dân Hoa Kỳ. Với nguồn cung hạn chế, việc xác định các nhóm ưu tiên để tiêm chủng COVID-19 là đặc biệt quan trọng để lên kế hoạch triển khai bằng phương thức theo giai đoạn. Nhóm Làm Việc về Vắc-xin ngừa COVID-19 của ACIP đã cân nhắc bằng chứng liên quan tới dịch tễ học về SARS-CoV-2, việc triển khai chương trình tiêm chủng và các nguyên tắc đạo đức trong việc xây dựng khuyến nghị tạm thời để phân bổ vắc-xin COVID-19. ACIP đã xem xét thông tin dựa trên bằng chứng liên quan tới vắc-xin ngừa COVID-19, bao gồm việc phân bổ ban đầu nguồn cung vắc-xin ngừa COVID-19. ACIP đã khuyến nghị rằng nhân viên y tế và cư dân tại các cơ sở chăm sóc dài hạn được cung cấp dịch vụ tiêm chủng ở giai đoạn đầu tiên của chương trình tiêm chủng COVID-19 (Giai đoạn 1a). Theo khuyến nghị tạm thời của ACIP về việc phân bổ vắc-xin ở Giai đoạn 1a, Nhóm Làm Việc đề xuất phân bổ vắc-xin cho Giai đoạn 1b và 1c. Giai đoạn 1b bao gồm người làm việc thuộc lĩnh vực thiết yếu ở tuyến đầu bao gồm những người làm việc trong ngành giáo dục (giáo viên và nhân viên trường học). Giáo viên và nhân viên trường học giữ vai trò công việc quan trọng giúp xã hội tiếp tục vận hành và có khả năng đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm do nghề nghiệp đối với SARS-CoV-2. Nhân viên STLT nên  cân nhắc đặt ưu tiên cao cho giáo viên ở giai đoạn 1b.

Việc tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên trường học có thể được coi là một lớp giảm thiểu và bảo vệ cho nhân viên và học sinh. Các chiến lược giảm thiểu rào cản việc tiếp cận tiêm chủng cho giáo viên và nhân viên thuộc lĩnh vực thiết yếu tuyến đầu, như tại phòng khám tiêm vắc-xin tại hoặc gần địa điểm làm việc là tối ưu. Nhân viên y tế STLT đã làm việc với lãnh đạo trường học và cộng đồng, từ đó xây dựng các phương thức có bao gồm cả các phòng khám bệnh nghề nghiệp/tại cơ sở của chủ lao động, sử dụng các nhà thuốc, phòng khám lưu động và điểm cấp phát của các đội đặc nhiệm thuộc sở y tế. Dữ liệu khảo sát cũng cho thấy rằng có sự ủng hộ lớn đối với việc tiêm vắc-xin sớm cho giáo viên và nhân viên trường học ở phương thức tiêm chủng theo giai đoạn26.

Dữ liệu quan sát được cho thấy rằng những người mang thai nhiễm COVID-19 có nguy cơ cao mắc bệnh nghiêm trọng so với những người trong độ tuổi sinh sản nhưng không mang thai. Ngoài ra, người mang thai bị nhiễm COVID-19 có thể có nguy cơ cao hơn dẫn đến kết quả bất lợi cho thai kỳ, chẳng hạn như sinh non, so với phụ nữ mang thai không bị nhiễm COVID-19. Hiện thời, dữ liệu về tính an toàn của vắc-xin COVID-19 dành cho người đang mang thai vẫn còn hạn chế. Giáo viên và nhân viên trường học đang mang thai có thể chọn được tiêm vắc-xin. Trao đổi giữa bệnh nhân mang thai và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ có thể giúp họ quyết định liệu có nên tiêm chủng với vắc-xin đã được cho phép dùng theo Giấy phép sử dụng khẩn cấp (EUA).

Viên chức trường học và các sở y tế có thể cùng phối hợp để hỗ trợ việc truyền tải thông điệp và tiếp cận liên quan tới việc tiêm chủng cho các thành viên của cộng đồng trường học khi họ có đủ điều kiện được tiêm chủng trong khu vực phân quyền của họ. Ví dụ, nền tảng liên lạc của trường học có thể được dùng để tiếp cận với các thành viên lớn tuổi hơn trong gia đình của học sinh, đặc biệt là cho các học sinh sống trong các gia đình đa thế hệ. Ở các giai đoạn sau của chương trình tiêm chủng, hoạt động truyền thông của trường học có thể hỗ trợ tiếp cận để khuyến khích việc tiêm chủng của các thành viên gia đình của trẻ ở độ tuổi tới trường khi họ có đủ điều kiện được tiêm chủng. Điều này nên bao gồm việc tiếp cận bằng ngôn ngữ mà những thành viên gia đình học sinh có trình độ tiếng Anh hạn chế có thể hiểu được và ở các định dạng thay thế khi cần để hỗ trợ việc truyền thông hiệu quả cho những người bị khuyết tật.

Việc triển khai các chiến lược giảm thiểu theo lớp sẽ cần tiếp tục đến khi chúng tôi hiểu rõ hơn về khả năng lây truyền giữa những người đã tiêm vắc-xin ngừa COVID-19 và chương trình tiêm chủng được mở rộng ra trong cộng đồng. Ngoài ra, hiện vắc-xin vẫn chưa được phê duyệt để sử dụng cho trẻ em dưới 16 tuổi. Vì những lý do này, ngay cả sau khi giáo viên và nhân viên được tiêm chủng, các trường cần tiếp tục các biện pháp giảm thiểu cho tương lai gần, bao gồm yêu cầu đeo khẩu trang tại các trường học và giãn cách xã hội.

Ghi chú chân trang

1Các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ triển khai giảng dạy trực tuyến trừ khi họ có thể triển khai nghiêm ngặt tất cả các chiến lược giảm thiểu; và có ít ca bệnh; các trường đã mở giảng dạy trực tiếp có thể tiếp tục mở cửa, nhưng chỉ khi họ triển khai nghiêm ngặt các chiến lược giảm thiểu và có ít ca bệnh.

2Nhân viên trường học trong tài liệu này đề cập tới bất kỳ nhân viên nào của trường học, nhà thầu hoặc tư vấn độc lập có tiếp xúc với học sinh và/hoặc giáo viên trong suốt cả ngày tại trường, bao gồm, ví dụ, ban giám hiệu, tài xế xe buýt, nhân viên phục vụ tại căng-tin, y tá trường học, chuyên gia trị liệu ngôn ngữ/nghề nghiệp, nhân viên bảo vệ và các nhân viên khác trong trường học.

3Thông tin bổ sung về việc vận hành bữa ăn trường học được cung cấp trong Hướng dẫn cho trường học K-12 của CDC.

4Trước đó, CDC đã cung cấp hướng dẫn cho các trường học thông qua Các chỉ báo để chủ động ra quyết định cho trường học. Các chỉ báo và ngưỡng hiện tại được cập nhật cho tài liệu đó thể hiện việc tập trung trong 7 ngày qua và bốn (hơn là năm) danh mục lây truyền cộng đồng.

Tham Khảo

  1. Ismail SA, Saliba V, Bernal JL, Ramsay ME, Ladhani SN. Lây nhiễm và lây truyền SARS-CoV-2 trong môi trường học đường: phân tích triển vọng, mẫu tiêu biểu về các cụm lây nhiễm và bùng phát dịch bệnh tại Anh. Lancet Infect Dis 2020; xuất bản trên mạng Tháng 12, 8. https://doi.org/10.1016/S1473-3099(20)30882-3external icon.
  2. Ludvigsson JF. Trẻ em không có khả năng là tác nhân chính của đại dịch COVID-19 - Đánh giá có hệ thống Acta Paediatr 2020;109:1525-1530. https://doi.org/10.1111/apa.15371external icon.
  3. Leidman E, Duca LM, Omura JD, et al. Các xu hướng của COVID-19 trong số những người có độ tuổi 0-24 tuổi - Hoa Kỳ, ngày 1​​​​​​​ tháng 3 - ngày 12 tháng 12, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2021;70. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm7003e1external icon.
  4. Aleta A, Moreno Y. Phân tích chênh lệch độ tuổi của làn sóng COVID-19 thứ hai ở Châu Âu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở thanh niên. medRxiv 2021. ePub: ngày 13 tháng 11, 2020. https://doi.org/10.1101/2020.11.11.20230177external icon.
  5. Grijalva CG, Rolfes MA, Zhu Y, et al. Lây truyền lây nhiễm SARS-COV-2 tại các hộ gia đình, Tennessee và Wisconsin, tháng 4 - tháng 9, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2020;69:1631-1634. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6944e1external icon.
  6. Lei H, Xu X, Xiao S, Wu X, Shu Y. Lây truyền COVID-19 trong hộ gia đình - đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp. J Infect 2020. ePub: ngày 25 tháng 8, 2020. http://dx.doi.org/10.1016/j.jinf.2020.08.033external icon.
  7. Zhu Y, Bloxham CJ, Hulme KD, et al.  Phân tích tổng hợp về vai trò của trẻ em trong SARS-CoV-2 tại các cụm lây truyền trong hộ gia đình. Các bệnh lây nhiễm Clin 2020. ePub: ngày 6 tháng 12, 2020. https://doi.org/10.1093/cid/ciaa1825external icon.
  8. Goldstein E, Lipsitch M, Cevik M. Tác động về tuổi tác với việc lây truyền SARS-CoV-2 trong hộ gia đình, trường học và cộng đồng. Các bệnh lây nhiễm J 2020. ePub: October 29, 2020. https://doi.org/10.1093/infdis/jiaa691external icon.
  9. Viner RM, Mytton OT, Bonell C, at al.  Tính dễ tổn thương về lây nhiễm SARS-CoV-2 trong trẻ em và trẻ vị thành niên so với người lớn: Đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp. JAMA Nhi khoa 2020. ePub: ngày 25 tháng 9, 2020. https://doi.org/10.1001/jamapediatrics.2020.4573external icon.
  10. He J, Guo Y, Mao R, Zhang J. Tỷ lệ bệnh vi-rút corona không có triệu chứng 2019: Đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp. J Vi-rút học y khoa 2021;93:820-830. https://doi.org/10.1002/jmv.26326external icon.
  11. Leeb RT, Price S, Sliwa S, et al. Các xu hướng COVID-19 trong số trẻ ở độ tuổi đến trường - Hoa Kỳ, ngày 1 tháng 3 - ngày 19 tháng 9, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2020;69:1410-1415. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6939e2external icon.
  12. Bi Q, Lessler J, Eckerle I, et al. Lây truyền SARS-CoV-2 trong gia đình: Thông tin chi tiết từ khảo sát huyết thanh học dựa trên dân số. medRxiv 2021. ePub Ngày 16 tháng 1, 2021. https://doi.org/10.1101/2020.11.04.20225573external icon.
  13. Zhang J, Litvinova M, Liang Y, et al. Những thay đổi trong mô hình tiếp xúc định hình động lực của đợt bùng phát COVID-19 ở Trung Quốc. Khoa học 2020;368:1481-1486.
  14. Zimmerman KO, Akinboyo IC, Brookhart MA, et al. Tỉ lệ mắc và lây truyền thứ cấp của việc lây nhiễm SARS-CoV-2 tại trường học. Nhi Khoa 2021. ePub ngày 1 tháng 1, 2020. https://doi.org/10.1542/peds.2020-048090external icon.
  15. Brandal LT, Ofitserova TS, Meijerink HM. Lây truyền SARS-CoV-2 tối thiểu từ các ca bệnh COVID-19 là trẻ em tại các trường tiểu học, Na Uy, tháng 8 đến tháng 11, 2020. Euro Surveill. 2021;26:2002-11. https://doi.org/10.2807/1560-7917.ES.2020.26.1.2002011external icon.
  16. Harris DN, Ziedan E, Hassig S. Tác động của việc tái mở cửa trường học đối với việc nhập viện vì COVID-19. Trung tâm nghiên cứu quốc gia về lựa chọn và quyền tiếp cận giáo dục (REACH) 2021. Ngày 4 tháng 1, 2021. https://www.reachcentered.org/publications/the-effects-of-school-reopenings-on-covid-19-hospitalizationsexternal icon.
  17. Gandini S, Rainisio M, Iannuzzo ML, Bellerba F, Cecconi F, Scorrano L. Không có bằng chứng liên quan giữa trường học và làn sóng SARS-CoV-2 thứ hai tại Ý. medRxiv 2021. ePub ngày 8 tháng 1, 2021. https://doi.org/10.1101/2020.12.16.20248134external icon.
  18. von Bismarck-Osten C, Borusyak K, Schonberg U. Vai trò của các trường học trong việc lây truyền vi-rút SARS-CoV-2s: Bằng chứng gần như thực nghiệm từ Đức. Trung tâm nghiên cứu và phân tích di cư (CReAM) 2020. ePub ngày 20 tháng 11, 2020. https://www.cream-migration.org/publ_uploads/CDP_22_20.pdfpdf iconexternal icon.
  19. Stein-Zamir C, Abramson N, Shoob H, et al. Bùng phát COVID-19 lớn tại một trường trung học 10 ngày sau khi trường học tái mở cửa, Israel, Tháng 5 2020. Euro Surveill 2020;25. ePub ngày 23 tháng 7, 2020. https://doi.org/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.29.2001352external icon.
  20. Honein MA, Christie A, Rose DA, et al. Tóm tắt hướng dẫn cho các chiến lược y tế công cộng để đề cập tới mức lây truyền cộng đồng cao về SARS-CoV-2 và số ca tử vong có liên quan, tháng 12, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2020;69:1860-1867. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6949e2external icon
  21. Gilbert LK, Strine TW, Szucs LE, et al. Sự khác biệt về chủng tộc và dân tộc trong thái độ  và các mối lo ngại của phụ huynh về việc tái mở cửa trường học trong khi xảy ra đại dịch COVID-19 - Hoa Kỳ, tháng 7, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong  2020;69:1848-1852. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6949a2external icon
  22. Atherstone C, Siegel M, Schmitt-Matzen E, et al. Lây truyền SARS-CoV-2 liên quan tới các giải đấu vật trường trung học phổ thông - Florida, tháng 12, 2020 - tháng 1, 2021. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong. ePub: 26 tháng 1, 2021. http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm7004e4external icon
  23. Denny TN, Andrews L, Bonsignori M, et al. Triển khai chương trình xét nghiệm giám sát tổng hợp cho các ca nhiễm SARS-CoV-2 không triệu chứng trong học xá trường đại học - Đại học Duke, Durham, Bắc Carolina, tháng 8, 2-ngày 11 tháng 10, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2020;69:1743-1747. DOI: http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6946e1external icon
  24. Barat B, Das S , De Giorgi V, Henderson DK, Kopka S, Lau AF, Miller T, et al. Mẫu xét nghiệm nước bọt tổng hợp để xét nghiệm SARS-CoV-2. J Clin Microbiol. Ngày 1 tháng 12, 2020;JCM.02486-20. https://doi: 10.1128/JCM.02486-20.
  25. Rader B, Astley CM, Sy KTL, Sewalk K, Hswen Y, Brownstein JS, Kraemer MUG. Tiếp cận địa lý với các địa điểm xét nghiệm SARS-CoV-2 tại Hoa Kỳ nêu bật sự bất bình đẳng về chăm sóc sức khỏe và có thể làm sai lệch các số liệu ước tính về lây truyền. J Y tế du lịch 2020;27:1-4. https://doi.org/10.1093/jtm/taaa076external icon.
  26. Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia. Khung chương trình phân bổ công bằng vắc-xin ngừa COVID-19 Washington, DC: Học viện báo chí; 2020. https://www.nap.edu/catalog/25917/ framework-for-equitable-allocation-of-covid-19-vaccineexternal icon.