Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Hướng dẫn tạm thời về xét nghiệm và sàng lọc SARS-CoV-2 tại các tổ chức bậc đại học (IHE)

Hướng dẫn tạm thời về xét nghiệm và sàng lọc SARS-CoV-2 tại các tổ chức bậc đại học (IHE)

Dành cho ban giám hiệu các trường cao đẳng và đại học

Cập nhật ngày 17 tháng 3 năm 2021
In

Tóm Tắt các Thay Đổi Gần Đây

  • Hướng dẫn đã được cập nhật để phản ánh những thay đổi trong Tổng quan về xét nghiệm SARS-CoV-2 của CDC.
  • Hướng dẫn đã được cập nhật để khuyến nghị sàng lọc từ khâu nhập học, trước khi bắt đầu mỗi học kỳ và xét nghiệm sàng lọc hàng loạt khi công suất xét nghiệm đủ để đáp ứng.
  • Hướng dẫn đã được cập nhật để phản ánh nội dung sửa đổi trong hướng dẫn cách ly của CDC và đưa vào những lưu ý về rút ngắn thời gian cách ly sau khi tham vấn sở y tế địa phương.
  • Hướng dẫn đã được cập nhật để nêu những lưu ý về giám sát, tiêm chủng và công bằng y tế liên quan đến COVID-19.

Các điểm chính

  • Hướng dẫn sau đây nhằm mục đích giúp ban giám hiệu các trường đại học và cao đẳng bảo vệ sinh viên, giảng viên, nhân viên và những cộng đồng lân cận làm chậm lại sự lây lan của SARS-CoV-2, loại vi-rút gây bệnh COVID-19.
  • Các IHE nên thực hiện chiến lược sàng lọc đầu vào trước thời điểm bắt đầu mỗi học kỳ.
  • Các IHE nên thực hiện một chiến lược xét nghiệm sàng lọc theo chuỗi phổ quát trong bối cảnh SARS-CoV-2 lây truyền cộng đồng ở mức trung bình, đáng kể và cao, nếu công suất xét nghiệm có thể đáp ứng đủ.
  • Tất cả các phương án phòng ngừa COVID-19 đều phải được xây dựng với sự góp ý của cơ quan y tế công cộng địa phương và phải có các chiến lược xét nghiệm cũng như biện pháp hành động để hỗ trợ xét nghiệm (VD: cách ly và cô lập).

Giới Thiệu

Xét nghiệm để nhanh chóng phát hiện và cô lập người nhiễm bệnh có thể làm giảm sự lây truyền của SARS-CoV-2, loại vi-rút gây bệnh COVID-19. Những người sinh sống và làm việc tại cơ sở tập trung, trong đó có các tổ chức bậc đại học (IHE), có nguy cơ mắc COVID-19 cao hơn.1 Như vậy, ban giám hiệu các trường đại học và cao đẳng cần lưu ý đến một số vấn đề đặc biệt khi lập kế hoạch sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán SARS-CoV-2.

Hướng dẫn sau đây nhằm mục đích giúp ban giám hiệu các trường đại học và cao đẳng bảo vệ sinh viên, giảng viên, nhân viên cũng như cộng đồng lân cận và làm chậm sự lây lan của SARS-CoV-2. Tất cả các phương án phòng ngừa, bao gồm chiến lược xét nghiệm, phải được xây dựng với sự góp ý của cơ quan y tế công cộng địa phương. Công suất và nhu cầu xét nghiệm giữa các IHE cũng như các cộng đồng nơi họ đặt khu trường sở sẽ có khác biệt rất lớn, và theo thời gian, mức độ lây truyền SARS-CoV-2 cũng sẽ dao động lên xuống. Tài liệu này đưa ra các khuyến nghị cho chiến lược sàng lọc đầu vào và xét nghiệm sàng lọc theo chuỗi cũng như bàn thảo những biện pháp chung để hỗ trợ xét nghiệm. Tài liệu này có mục đích chia sẻ hướng dẫn về các loại xét nghiệm và mục đích hướng đến của việc xét nghiệm SARS-CoV-2 trong khi cân nhắc đến công suất xét nghiệm bổ sung khắp cả nước, và không đề cập đến những quyết định thanh toán bảo hiểm hay phạm vi bảo hiểm cho hoạt động xét nghiệm đó. Hướng dẫn này là bản cập nhật cho "Lưu Ý Tạm Thời Dành Cho Các Nhà Quản Lý của Tổ Chức Giáo Dục Đại Học Đối Với Xét Nghiệm SARS-CoV-2" được đăng tải lần đầu vào ngày 30 tháng 6 năm 2020.

Xét nghiệm để nhanh chóng phát hiện và cách ly người nhiễm bệnh có thể làm giảm mức độ lây truyền của SARS-CoV-2. Việc này nên là một cấu phần trong văn bản phương án phòng ngừa toàn diện COVID-19 của các IHE. Nếu IHE có tổ chức xét nghiệm trên diện rộng, người có triệu chứng nhẹ, người có triệu chứng nhưng cho rằng mình không mắc COVID-19 và người bị nhiễm bệnh nhưng chưa xuất hiện triệu chứng và không có triệu chứng có thể được xác định. Việc thực hiện theo hướng dẫn xét nghiệm của CDC có thể giúp IHE bảo vệ các sinh viên, giảng viên, nhân viên và những cộng đồng lân cận, đồng thời làm chậm sự lây lan của SARS-CoV-2.2 Các chiến lược phòng ngừa (VD: tiêm chủng, cách ly giao tiếp xã hội, sử dụng khẩu trang đúng cách và liên tục, vệ sinh tay, vệ sinh tăng cường và thông gió thích hợp) nên được triển khai song song với tất cả các chiến lược xét nghiệm.3

CDC không có thẩm quyền quản lý đối với hoạt động xét nghiệm. Vì vậy, thông tin trong tài liệu này chỉ nhằm hỗ trợ các sở y tế và IHE đưa ra quyết định hơn là xác lập bất cứ yêu cầu nào mang tính quản lý. Các IHE được khuyến khích hợp tác chặt chẽ với các cơ quan y tế công cộng tại địa phương để phát triển các kế hoạch và quy trình phù hợp với thẩm quyền của họ.

Các IHE khác nhau đáng kể về vị trí địa lý (có thể khác nhau về mức độ lây truyền cộng đồng), quy mô, cơ cấu điều hành, ngân sách và tổ chức. Các IHE cũng khác nhau đáng kể về tỷ lệ các nhóm sinh viên sống trong ký túc xá, ở ngoài ký túc xá gần IHE hay cách thức đi lại trên tổng số sinh viên. Công suất và nhu cầu xét nghiệm cũng khác nhau giữa các IHE và cộng đồng lân cận. Với những đặc điểm khác nhau này, người điều hành IHE nên cộng tác với sở y tế công cộng tại địa phương để xác định những chiến lược tốt nhất cho việc xét nghiệm sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán những ca có triệu chứng. IHE và sở y tế nên có một kế hoạch hành động để thực hiện đối với những người có kết quả xét nghiệm dương tính và người tiếp xúc gần với họ.1

Những điều cần lưu ý khi xét nghiệm

Xét nghiệm SARS-CoV-2 có thể được đưa vào hoạt động như một phần trong phương pháp tiếp cận toàn diện nhằm giảm sự lây truyềnSàng lọc triệu chứng, xét nghiệm và truy dấu người tiếp xúc là những chiến lược giúp xác định người nhiễm SARS-CoV-2 để có thể hành động nhằm làm chậm và ngăn chặn sự lây lan của vi-rút.

Vắc-xin ngừa COVID-19 hiện đang có sẵn theo các liều giới hạn; do vậy, Ủy Ban Tư Vấn về Quy Trình Phòng Ngừa Miễn Dịch của CDC (ACIP) đã miêu tả các khuyến nghị về việc ưu tiên trong những giai đoạn đầu của chương trình chủng ngừa. Do nguồn cung cấp vắc-xin tăng và các nhóm ưu tiên bổ sung nhận vắc-xin, các ưu tiên của CDC trong xét nghiệm SARS-CoV-2 sẽ thay đổi và bản hướng dẫn sẽ được cập nhật. Ví dụ, khi số giảng viên tại IHE được tiêm chủng tăng lên, thì có thể chuyển sang ưu tiên xét nghiệm SARS-CoV-2 cho những giảng viên, nhân viên và sinh viên chưa được tiêm chủng. Để tham khảo hướng dẫn về cách ly và xét nghiệm cho những người đã được tiêm chủng đầy đủ, vui lòng truy cập Khuyến cáo tạm thời của cơ quan y tế công cộng đối với người đã được tiêm chủng đầy đủ.

Những người đang được xét nghiệm nên nhận các thông tin rõ ràng về

  • nhà sản xuất, tên xét nghiệm, loại xét nghiệm, mục đích xét nghiệm, các thông số hiệu suất của bài xét nghiệm, bất kỳ sự giới hạn nào liên quan đến bài xét nghiệm, người chi trả cho xét nghiệm, cách xét nghiệm được thực hiện, khi nào được nhận kết quả xét nghiệm và nhận thế nào;
  • cách đọc hiểu ý nghĩa của kết quả xét nghiệm, những hành động đi liền với kết quả âm tính hoặc dương tính, sự khác nhau giữa xét nghiệm cho mục đích sàng lọc tại nơi làm việc và cho mục đích chẩn đoán y tế, những người sẽ nhận kết quả, kết quả có thể được sử dụng như thế nào và mọi hậu quả nếu từ chối xét nghiệm.

Những người được xét nghiệm bắt buộc phải nhận được tờ thông tin cho bệnh nhân, và đây là một phần trong giấy phép sử dụng khẩn cấp (EUA)external icon của loại xét nghiệm đó.

Các loại xét nghiệm

Có nhiều loại xét nghiệm được sử dụng để phát hiện SARS-CoV-2. Việc lựa chọn và diễn giải xét nghiệm SARS-CoV-2 nên căn cứ theo bối cảnh mà chúng được sử dụng.

Xét nghiệm vi-rút

Loại xét nghiệm vi-rút đã được Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ phê chuẩnexternal icon được sử dụng để chẩn đoán tình trạng lây nhiễm SARS-CoV-2, loại vi-rút gây bệnh COVID-19. Xét nghiệm vi-rút đánh giá xem vi-rút có trong mẫu xét nghiệm từ cơ quan hô hấp hay các mẫu khác không. Kết quả từ các xét nghiệm này giúp nhân viên y tế công cộng xác định và cô lập những người bị lây nhiễm nhằm giảm thiểu lây truyền SARS-CoV-2. Xem danh sách Giấy phép sử dụng khẩn cấp chẩn đoán trong ống nghiệmexternal icon của FDA để biết thêm thông tin về hiệu suất của các xét nghiệm cụ thể được phép.

  • Các loại xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAAT), chẳng hạn như phản ứng chuỗi trùng hợp phiên mã ngược thời gian thực (RT-PCR), phát hiện acid ribonucleic (RNA) của vi-rút và cho biết tình trạng lây nhiễm hiện tại hoặc gần đây nhờ phát hiện RNA tồn tại lâu dài của vi-rút mà không cần bằng chứng trực tiếp cho thấy vi-rút có khả năng sao chép hoặc lây truyền sang cho người khác. NAAT là những loại xét nghiệm có độ nhạy cao, tính đặc hiệu cao để chẩn đoán lây nhiễm SARS-CoV-2. Hầu hết các NAAT đều cần được xử lý trong phòng thí nghiệm với thời gian cho kết quả khác nhau (~1-2 ngày), nhưng một số loại NAAT là xét nghiệm tại nơi chăm sóc và cho kết quả chỉ trong khoảng 15-45 phút.
  • Xét nghiệm kháng nguyên phát hiện sự hiện diện của một kháng nguyên vi-rút cụ thể. Hầu hết các xét nghiệm này có thể được xử lý tại nơi chăm sóc và cho kết quả trong khoảng 15-­30 phút. Xét nghiệm kháng nguyên thường có tính đặc hiệu tương tự nhưng độ nhạy thấp hơn NAAT. Tùy theo xác suất tiền xét nghiệm mà kết quả xét nghiệm kháng nguyên có thể cần được xác nhận lại bằng NAAT (VD: xét nghiệm âm tính ở người có triệu chứng hoặc dương tính ở người không có triệu chứng). Việc sử dụng Thuật Toán Xét Nghiệm Kháng Nguyên pdf icon[147 KB, 1 trang] được khuyến nghị để xác định xem có cần xét nghiệm để xác nhận không.

Xét nghiệm kháng thể

Xét nghiệm kháng thể (hay huyết thanh học) được sử dụng để phát hiện tình trạng lây nhiễm SARS-CoV-2 trước đây và có thể hỗ trợ chẩn đoán Hội Chứng Viêm Đa Hệ Thống ở Trẻ Em (MIS-C) và ở người lớn (MIS-A). CDC không khuyến nghị dùng xét nghiệm kháng thể để chẩn đoán tình trạng nhiễm bệnh hiện tại. Tùy vào thời điểm nhiễm bệnh và thời điểm xét nghiệm mà xét nghiệm có thể không phát hiện ra kháng thể ở người hiện đang nhiễm bệnh. Ngoài ra, hiện vẫn chưa rõ liệu kết quả xét nghiệm kháng thể dương tính có cho thấy khả năng miễn dịch với SARS-CoV-2 hay không; vì vậy, tại thời điểm này, không nên sử dụng xét nghiệm kháng thể để xác định khả năng miễn dịch của cá nhân trước nguy cơ tái lây nhiễm. Phương thức xét nghiệm kháng thể hiện đang được sử dụng cho mục đích dịch tễ học và giám sát của cơ quan y tế công cộng. Do xét nghiệm kháng thể có thể nhắm đến những đối tượng khác nhau trên vi-rút, quý vị có thể cần thực hiện các xét nghiệm cụ thể để đánh giá xem kháng thể bắt nguồn từ lần lây nhiễm trước đây so với kháng thể có được nhờ tiêm chủng. Để biết thêm thông tin về vắc-xin COVID-19 và kết quả xét nghiệm kháng thể, vui lòng tham khảo Các Lưu Ý Lâm Sàng Tạm Thời đối với Việc Sử Dụng Vắc-xin mRNA ngừa COVID-19 tại Hoa Kỳ.

Để biết thêm thông tin, vui lòng tham khảo Tổng quan về xét nghiệm SARS-CoV-2.

Để biết thông tin chi tiết hơn về các loại xét nghiệm nhằm phát hiện SARS-CoV-2, truy cập Tổng quan về xét nghiệm SARS-CoV-2. Các khuyến nghị của CDC về xét nghiệm SARS-CoV-2 dựa trên những thông tin hiện biết về loại vi-rút này.  SARS-CoV-2 là mầm bệnh mới được xác định đồng thời những hiểu biết về vi-rút và quá trình diễn biến của bệnh sẽ tiếp tục xuất hiện thêm. Thông tin về xét nghiệm SARS-CoV-2 sẽ được cập nhật khi có thêm thông tin.

Tổng quan về các tình huống xét nghiệm

Mục đích của xét nghiệm chẩn đoán là xác định tình trạng nhiễm bệnh hiện tại ở các cá nhân và xét nghiệm này được thực hiện khi một người có dấu hiệu hoặc triệu chứng giống với COVID-19, hoặc khi một người không có triệu chứng nhưng lại nghi ngờ hoặc đã xác định có phơi nhiễm với SARS-CoV-2 trong thời gian gần đây.

Ví dụ về xét nghiệm chẩn đoán bao gồm:

  • Xét nghiệm cho người có triệu chứng giống với COVID-19 và người đến gặp nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ
  • Xét nghiệm là kết quả của nỗ lực truy dấu người tiếp xúc
  • Xét nghiệm cho những người cho biết là họ đã tiếp xúc với một ca COVID-19 đã xác nhận hoặc đang nghi nhiễm
  • Xét nghiệm cho người đã tham dự một sự kiện nơi có một người tham gia khác sau đó được xác nhận mắc COVID-19

Xét nghiệm sàng lọc có mục đích là xác định những người nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng và không có tiền sử phơi nhiễm SARS-CoV-2 đã xác định, nghi ngờ hay đã báo cáo. Việc sàng lọc giúp xác định những ca chưa rõ để có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ tiếp tục lây truyền.

Ví dụ về sàng lọc bao gồm:

  • Xét nghiệm cho người lao động tại nơi làm việc
  • Xét nghiệm cho sinh viên, giảng viên và nhân viên tại một trường học hoặc trường đại học
  • Xét nghiệm cho cá nhân trước và sau khi đi du lịch
  • Xét nghiệm tại nhà cho người không có triệu chứng gắn liền với COVID-19 và không có sự phơi nhiễm đã biết với người mắc COVID-19

Lựa chọn một loại xét nghiệm

Khi lựa chọn loại xét nghiệm để sử dụng, điều quan trọng là phải hiểu được mục đích xét nghiệm (VD: chẩn đoán, sàng lọc), kết quả phân tích xét nghiệm trong bối cảnh mức độ lây truyền cộng đồng, nhu cầu xét nghiệm nhanh và các lưu ý khác. Bảng 1 tóm tắt một số đặc điểm của NAAT và xét nghiệm kháng nguyên để xem xét. Hầu hết các xét nghiệm kháng nguyên đã nhận được EUA từ FDAexternal icon được cho phép để xét nghiệm cho người có triệu chứng trong vòng 5, 7, 12 hoặc 14 ngày đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng. Xét đến nguy cơ lây truyền SARS-CoV-2 từ người nhiễm SARS-CoV-2 trong giai đoạn tiền triệu chứng hoặc không có triệu chứng, quý vị có thể cân nhắc sử dụng xét nghiệm kháng nguyên ở những người không có triệu chứng và đang trong giai đoạn tiền triệu chứng. FDA đã đưa ra một danh sách câu hỏi thường gặp dành cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đang sử dụng xét nghiệm chẩn đoán khi sàng lọc người không có triệu chứngexternal icon, và Trung Tâm Dịch Vụ Medicare & Medicaid sẽ tạm thời thực thi quyền quyết định thi hànhpdf iconexternal icon để cho phép sử dụng xét nghiệm kháng nguyên ở người không có triệu chứng trong giai đoạn khẩn cấp về y tế công cộng do COVID-19 theo Tu Chính Cải Thiện Phòng Xét Nghiệm Lâm Sàng năm 1988 (CLIA). Các phòng thí nghiệm thực hiện xét nghiệm sàng lọc hoặc chẩn đoán SARS-CoV-2 phải có chứng chỉ CLIA và đáp ứng các yêu cầu quản lý. Những loại xét nghiệm đã nhận được EUA từ FDA để sử dụng tại nơi chăm sóc (POC) có thể được thực hiện nếu có chứng chỉ miễn CLIA.

Bảng 1. Những điểm khác nhau giữa NAAT và xét nghiệm kháng nguyên cần cân nhắc khi lập kế hoạch sử dụng cho mục đích chẩn đoán hoặc sàng lọc

NAAT

Xét nghiệm kháng nguyên

Mục đích nhắm đến

Phát hiện lây nhiễm hiện tại^

Phát hiện lây nhiễm hiện tại

Chất phân tích được phát hiện

Acid Ribonucleic (RNA) Của Vi-rút

Kháng nguyên vi-rút

(Các) loại mẫu xét nghiệm

Dịch mũi, dịch mũi họng, dịch miệng - hầu, đờm, nước bọt

Dịch mũi, dịch mũi họng

Độ nhạy

Tùy vào xét nghiệm, nhưng thường là cao ở các xét nghiệm tại phòng thí nghiệm và trung bình - cao ở những xét nghiệm tại POC

Tùy vào thời gian lây nhiễm, nhưng thường là từ trung bình đến cao tại những thời điểm tải lượng vi-rút đỉnh điểm*

Độ đặc hiệu

Cao

Cao

Độ phức tạp của xét nghiệm

Tùy theo loại xét nghiệm

Tương đối dễ sử dụng

Được cho phép sử dụng tại nơi chăm sóc

Đa số là không, một số khác có

Đa số là có, một số khác không

Thời gian cho kết quả

Đa số từ 1-3 ngày. Một số có thể có kết quả chỉ sau 15 phút

Từ 15 - 30 phút

Chi phí xét nghiệm§

Trung bình (~75 USD-100 USD/xét nghiệm)

Thấp (~5 USD-50 USD/xét nghiệm)

Ưu điểm

Phương pháp xét nghiệm nhạy nhất ở thời điểm hiện tại

Thời gian cho kết quả ngắn với các xét nghiệm NAAT POC, nhưng loại xét nghiệm chỉ có số ít

Thường không cần lặp lại để xác nhận kết quả

Thời gian quay vòng ngắn (khoảng 15 phút)

Khi thực hiện tại hoặc gần POC, cho phép nhanh chóng xác định người nhiễm bệnh, từ đó ngăn chặn sự lây truyền vi-rút sau đó tại cộng đồng, nơi làm việc, v.v.

Hiệu suất tương xứng với các xét nghiệm NAAT ở những người có triệu chứng và/hoặc nếu vi-rút nuôi cấy xuất hiện, khi đối tượng xét nghiệm được cho rằng đã nhiễm bệnh

Nhược Điểm

Thời gian cho kết quả dài hơn với những xét nghiệm ở phòng thí nghiệm (1-3 ngày)

Chi phí xét nghiệm cao hơn

Xét nghiệm chẩn đoán NAAT dương tính không nên được thực hiện lặp lại trong 90 ngày, do mọi người có thể tiếp tục có RNA phát hiện được sau khi đã hết nguy cơ bị truyền nhiễm

Có thể cần xét nghiệm xác nhận

Có độ nhạy thấp hơn (nhiều kết quả âm tính sai hơn) so với các xét nghiệm NAAT, đặc biệt là ở những người không có triệu chứng

*Việc độ nhạy của các xét nghiệm kháng nguyên giảm có thể được bù đắp nếu các xét nghiệm kháng nguyên tại điểm chăm sóc được lặp lại thường xuyên hơn (tức là xét nghiệm nối tiếp ít nhất là hàng tuần).
^Chi phí cho: Các xét nghiệm NAATexternal iconCác xét nghiệm kháng thểexternal icon

Lưu ý khi xét nghiệm trong các tình huống khác nhau

Xét nghiệm chẩn đoán

Xét nghiệm những người có dấu hiệu và triệu chứng của COVID-19

Người có dấu hiệu và triệu chứng của COVID-19, bất kể là họ đã tiêm chủng chưa, đều phải được tách khỏi người khác (VD: sinh viên, nhân viên, khách đến) ngay lập tức, đeo khẩu trang (nếu chưa) và đưa về nhà để cô lập hoặc chuyển tới một phòng/tầng/tòa nhà cô lập do trường bảo trợ. Nếu triệu chứng là nghiêm trọng, họ nên được chuyển tới một cơ sở chăm sóc sức khỏe để được điều trị y tế. Công Cụ Tự Kiểm Tra Vi-rút Corona là một công cụ giúp mọi người đưa ra quyết định về thời điểm nên tiến hành xét nghiệm và biện pháp chăm sóc y tế thích hợp. Theo khuyến cáo của CDC, người có dấu hiệu hoặc triệu chứng của COVID-19 nên tiến hành xét nghiệm và làm theo lời khuyên của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Người có dấu hiệu hoặc triệu chứng của COVID-19 chỉ được rời khỏi nơi cô lập để tiến hành xét nghiệm hoặc được chăm sóc y tế. Để biết thêm thông tin về cách diễn giải kết quả xét nghiệm, tham khảo Tổng quan về xét nghiệm SARS-CoV-2.

Kết quả xét nghiệm dương tính thông qua xét nghiệm vi-rút (NAAT hoặc kháng nguyên) ở người có dấu hiệu hoặc triệu chứng giống với COVID-19 cho thấy người đó mắc COVID-19. Xét nghiệm kháng nguyên âm tính ở những người có dấu hiệu hoặc triệu chứng của COVID-19 phải được xác nhận bằng cách sử dụng xét nghiệm NAAT trong phòng thí nghiệm, một loại xét nghiệm có độ nhạy cao hơn. Kết quả từ xét nghiệm NAAT được xem là xét nghiệm khẳng định khi có sai khác giữa xét nghiệm kháng nguyên và NAAT. Để biết thêm thông tin, xem Thuật toán xét nghiệm kháng nguyênpdf icon.

Người có kết quả dương tính nên cô lập tại nhà, tại phòng/tầng/tòa nhà cô lập do trường bảo trợ hoặc ở một cơ sở y tế, trong một khu vực có các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Họ phải luôn ở nơi cách ly cho đến khi đáp ứng các tiêu chí mà CDC xác lập về ngừng cô lập tại nhà hoặc ngừng biện pháp phòng ngừa tại cơ sở y tế. Kết quả xét nghiệm dương tính phải nhanh chóng được báo cáo cho cơ quan y tế công cộng để cho phép nghiên cứu ca bệnh và truy dấu người tiếp xúc.

Xét nghiệm cho những người không có triệu chứng mà nghi ngờ hoặc đã xác định phơi nhiễm SARS-CoV-2

Khi hợp tác với sở y tế địa phương, các IHE nên cân nhắc cách thức tiến hành nghiên cứu ca bệnh và truy dấu những người tiếp xúc gần đã xác định hoặc có khả năng tiếp xúc gần với sinh viên, giảng viên và nhân viên đã được chẩn đoán mắc COVID-19. Việc xác định người tiếp xúc gần có thể giúp giảm sự lây lan của SARS-CoV-2 khi những người tiếp xúc gần này tự cách ly. Sau khi được xác định, người tiếp xúc gần phải được xét nghiệm ngay bằng xét nghiệm vi-rút. Nếu kết quả âm tính, phải xét nghiệm lần nữa sau 5-7 ngày kể từ lần phơi nhiễm gần nhất hoặc ngay lập tức nếu triệu chứng hình thành trong thời gian cách ly (người tiếp xúc gần có triệu chứng nên được xét nghiệm bất kể đã tiêm chủng hay chưa). Nếu khả thi, việc xét nghiệm rộng hơn ra ngoài phạm vi những người tiếp xúc gần có thể được thực hiện đồng thời với các chiến lược khác để kiểm soát việc lây truyền SARS-CoV-2 trong khu trường sở.

Tính khả thi của việc xác định và xét nghiệm những người tiếp xúc gần có thể khác nhau tùy theo IHE và sở y tế địa phương. Nếu việc truy dấu từng người tiếp xúc là không khả thi, IHE có thể cân nhắc xét nghiệm cho tất cả những người ở gần người đã xác nhận mắc COVID-19 (ví dụ như người ở cùng không gian chung hoặc phòng vệ sinh chung) hay xét nghiệm cho tất cả những người sống cùng khu (ví dụ như xét nghiệm cho toàn bộ những người sống cùng tầng hoặc trong toàn bộ khu ký túc xá đó).

Xét nghiệm để xác định tình trạng hết lây nhiễm

Việc tập hợp bằng chứng củng cố cho quyết định ngừng cô lập và các biện pháp phòng ngừa cho người mắc COVID-19 với một chiến lược dựa trên triệu chứng. Người trưởng thành có nhiều bệnh nghiêm trọng hoặc bị suy giảm miễn dịch có thể vẫn có khả năng lây nhiễm lên đến 20 ngày hoặc lâu hơn từ khi khởi phát triệu chứng, vì vậy các cơ sở có thể cân nhắc về chiến lược dựa trên xét nghiệm khi tham khảo ý kiến chuyên gia bệnh truyền nhiễm đối với những người này. Với tất cả những đối tượng khác, chiến lược dựa trên xét nghiệm không còn được khuyên dùng ngoại trừ việc ngừng cách ly hoặc cần có các biện pháp phòng ngừa sớm hơn khi thực hiện theo chiến lược dựa trên triệu chứng.

Xét nghiệm sàng lọc

Xét nghiệm người không có triệu chứng và không được biết hay nghi ngờ bị phơi nhiễm với SARS-CoV-2 để xác định, cách ly và phòng bệnh từ sớm

Trong một cơ sở IHE, với mức độ di chuyển liên tục của giảng viên, nhân viên và sinh viên từ IHE ra cộng đồng và ngược lại, thì việc sàng lọc sớm ngay từ đầu mỗi học kỳ kết hợp với xét nghiệm sàng lọc theo chuỗi có thể giúp ngăn chặn hoặc làm chậm sự lây lan của COVID-19. Một nghiên cứu cho thấy 96% số trường hợp lây nhiễm hoàn toàn có thể ngăn chặn được nếu xét nghiệm sàng lọc định kỳ tại khu trường sở đại học, song song với những chính sách rộng khắp về bắt buộc sử dụng khẩu trang và đảm bảo giữ khoảng cách 4. Trường cũng có thể cân nhắc khuyến khích xét nghiệm tự nguyện.

Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, IHE nên triển khai xét nghiệm sàng lọc đầu vào cho toàn bộ sinh viên, kể cả những bạn sống ngoài khu trường sở và nên cân nhắc thực hiện xét nghiệm sàng lọc đầu vào cho đội ngũ giảng viên và nhân viên. Những người tiến hành xét nghiệm sàng lọc đầu vào nên được cách ly trong thời gian chờ kết quả xét nghiệm. Tại những điểm xét nghiệm có sử dụng xét nghiệm kháng nguyên, thì chúng tôi khuyến nghị tiến hành xét nghiệm NAAT mang tính xác nhận tại phòng thí nghiệm đối với những người có kết quả dương tính. Để diễn giải kết quả xét nghiệm sàng lọc, vui lòng tham khảo Thuật toán xét nghiệm kháng nguyênpdf icon.

Trong bối cảnh SARS-CoV-2 có mức độ lây truyền cộng đồng thấp (Bảng 2), có thể chỉ cần xét nghiệm đầu vào trước khi bắt đầu mỗi học kỳ là đủ. Trong điều kiện lây truyền cộng đồng ở mức trung bình (Bảng 2), CDC khuyến nghị IHE nên thực hiện kết hợp sàng lọc đầu vào phổ quát và sàng lọc theo chuỗi mở rộng ít nhất là mỗi tuần một lần, nếu công suất xét nghiệm có thể đáp ứng đủ. Với mức độ lây truyền cộng đồng đáng kể hoặc cao (Bảng 2), CDC khuyên tiến hành xét nghiệm đầu vào phổ quát và xét nghiệm sàng lọc theo chuỗi mở rộng ít nhất là hai lần mỗi tuần nếu công suất xét nghiệm có thể đáp ứng đủ. Tham khảo Bảng 3.

Bất kể mức độ lây truyền cộng đồng là như thế nào, thì trong bối cảnh bùng phát dịch bệnh tại IHE, CDC vẫn khuyến cáo tăng cường tiến hành xét nghiệm sàng lọc hàng loạt trong các nhóm đối tượng tại IHE (sinh viên, giảng viên và nhân viên), ngoài việc nhanh chóng nghiên cứu ca bệnh và truy vết người tiếp xúc, nhằm giảm thiểu sự lây lan của SARS-CoV-2. Xét nghiệm mẫu ngẫu nhiên trong số sinh viên, giảng viên và nhân viên không có triệu chứng là một chiến lược để phát hiện bùng phát kịp thời hơn5. Trường có thể kích hoạt xét nghiệm bổ sung theo các dấu hiệu cho biết tình trạng gia tăng lây truyền cộng đồng (ví dụ như từ kết quả xét nghiệm dương tính nhờ giám sát nước thải).

Nếu công suất xét nghiệm không đáp ứng đủ, hãy mở rộng việc xét nghiệm sàng lọc các nhóm cụ thể (ví dụ như xét nghiệm cho toàn bộ số sinh viên tại một ký túc xá cụ thể dựa trên mật độ cư trú hoặc nếu phát hiện cụm ca bệnh) hay có thể cân nhắc xét nghiệm theo chuỗi định kỳ để giúp nhanh chóng xác định và cô lập người nhiễm bệnh. Gộp mẫu xét nghiệm là một chiến lược khác có thể giúp giảm bớt gánh nặng xét nghiệm.

Chiến lược xét nghiệm cũng có thể bao gồm bổ sung xét nghiệm cho người không có triệu chứng nhưng thường xuyên tiếp xúc với sinh viên, giảng viên và nhân viên (VD: người làm việc ở các cơ sở kinh doanh phục vụ cho cộng đồng IHE), hoặc người thường xuyên đến khu trường sở (VD: tại nơi thờ phượng chung, tiệm cà phê công cộng, v.v.), nhưng không có mối liên hệ chuẩn tắc với IHE, bên cạnh những nỗ lực xét nghiệm chẩn đoán và sàng lọc hiện tại.

Khuyến cáo xét nghiệm của CDC dành cho IHE cũng tương tự như hướng dẫn xét nghiệm được Hiệp Hội Sức Khỏe Trường Đại Học, Cao Đẳng Hoa Kỳpdf iconexternal icon đưa ra, trong đó nêu rõ rằng tất cả các sinh viên và giảng viên, nhân viên của IHE đều phải được xét nghiệm SARS-CoV-2 ít nhất hai lần/tuần và trả kết quả trong vòng 48 giờ. Khi số người được tiêm chủng tăng lên, có thể chuyển sang ưu tiên xét nghiệm SARS-CoV-2 cho những giảng viên, nhân viên và sinh viên chưa được tiêm chủng.

Bảng 2. Các chỉ báo cộng đồng ở cấp độ quận@

Chỉ Báo Lây truyền thấp

Xanh da trời

Lây truyền trung bình

Màu vàng

Lây truyền đáng kể

Cam

Lây truyền cao

Đỏ

Bảng 1. Các chỉ báo và ngưỡng của CDCvề lây truyền cộng đồng về COVID-19
Tổng số ca mới lũy kế trên mỗi 100.000 người trong 7 ngày qua* <10 10-49 50-99 ≥100
Tỷ lệ xét nghiệm NAAT cho kết quả dương tính trong 7 ngày qua <5% 5%-7.9% 8%-9.9% ≥10%

Các chỉ báo được tính toán cho các quận hoặc khu vực thống kê cốt lõi, dù là khu vực nông thôn với mật độ dân số thấp, nhiều khu vực phân quyền có thể phải tính gộp lại để đưa ra chỉ báo giúp ích hơn cho việc ra quyết định. Quý vị có thể tìm thấy các chỉ báo được liệt kê ở trên theo quận trên CDC's Trang mạng Công Cụ Theo Dõi Dữ Liệu COVID ở "dạng xem theo quận của CDC.

@ Nếu hai chỉ báo cho thấy mức độ lây truyền khác nhau, thì mức độ cao hơn sẽ được chọn.

* Số ca mới trong quận (hoặc cấp hành chính khác) trong 7 ngày qua chia cho dân số quận (hoặc cấp hành chính khác) và nhân với 100.000.

Số xét nghiệm dương tính trong quận (hoặc cấp hành chính khác) trong 7 ngày qua chia cho tổng số xét nghiệm cho kết quả trong quận (hoặc cấp hành chính khác) trong 7 ngày qua. Tính phần trăm dương tính với xét nghiệm tại phòng thí nghiệm cho vi-rút corona 2 gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV-2): Các phương pháp và lưu ý của CDC cho việc so sánh và diễn giải.

Bảng 3. Hành động nên thực hiện dựa trên cấp chỉ báo trong cộng đồng

Chiến lược phòng ngừa Lây truyền thấp

(Xanh)

Lây truyền trung bình

(Vàng)

Lây truyền đáng kể

(Cam)

Lây truyền cao

(Đỏ)

Bảng 1. Các chỉ báo và ngưỡng của CDCvề lây truyền cộng đồng về COVID-19
Thực hiện xét nghiệm đầu vào phổ quát
Thực hiện xét nghiệm đầu vào phổ quát và xét nghiệm sàng lọc mở rộng ít nhất một lần/tuần nếu công suất xét nghiệm đáp ứng đủ
Thực hiện xét nghiệm sàng lọc đầu vào phổ quát và sàng lọc mở rộng hai lần/tuần nếu công suất xét nghiệm đáp ứng đủ

 

Những điều cần lưu ý chung về xét nghiệm tại cơ sở IHE

Hành động nhằm hỗ trợ xét nghiệm

Ban giám hiệu IHE nên tuân thủ luật pháp tiểu bang và địa phương cũng như hướng dẫn từ Ủy Ban Cơ Hội Việc Làm Bình Đẳngexternal icon khi tiến hành xét nghiệm cho giảng viên, nhân viên và sinh viên mà do IHE tuyển dụng. IHE cũng phải tuân thủ hướng dẫn của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ về Đạo Luật Quyền Riêng Tư và Quyền Giáo Dục cho Gia Đình (FERPA) và Đạo Luật Trách Nhiệm Giải Trình và Cung Cấp Thông Tin Bảo Hiểm Y Tế (HIPAA)external icon cùng khả năng áp dụng cho sinh viên và hoạt động truy dấu người tiếp xúc, xét nghiệm COVID-19.

Cô lập và Cách ly

Các sinh viên, giảng viên hay nhân viên nhiễm SARS-CoV-2 phải cách lyngười tiếp xúc gần với họ cũng phải cách ly, đồng thời được xét nghiệm ngay sau khi được xác định. Nếu có kết quả âm tính lần đầu, người tiếp xúc gần phải được xét nghiệm lần nữa sau 5-7 ngày kể từ lần phơi nhiễm cuối cùng hoặc ngay lập tức nếu hình thành triệu chứng, bất kể họ đã tiêm chủng hay chưa. Những người sống trong khu trường sở nên tiếp tục ở lại khu trường sở trong thời gian cách ly, nếu có thể. Việc cách ly hoặc cô lập tại khu trường sở có thể ngăn chặn viện lây lan thêm ra ngoài cộng đồng và cho những người có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng, tử vong cao hơn, nhưng buộc phải có kế hoạch chăm sóc sức khỏe cũng như dịch vụ hỗ trợ cho các sinh viên, giảng viên hay nhân viên bị ảnh hưởng.

Biện pháp cô lập khi nhiễm bệnh được áp dụng để tách riêng người nhiễm SARS-CoV-2 với người không bị nhiễm. Những người đang cách ly nên ở nhà cho đến khi an toàn để họ có thể ở gần người khác. Tại nhà, người bị bệnh hoặc nhiễm bệnh nên cách xa những người khác, ở trong một khu vực hoặc "phòng bệnh" cụ thể nào đó và sử dụng phòng vệ sinh (nếu có).

Các IHE nên giới thiệu cho người có triệu chứng đi xét nghiệm ngay lập tức hoặc đến một cơ sở y tế thích hợp nếu cần. Với những người có triệu chứng, việc cách ly sau khi nhiễm bệnh phải được bắt đầu tại thời điểm khởi phát triệu chứng. Mọi người không nên chờ có kết quả xét nghiệm rồi mới bắt đầu cách ly.

Nếu đủ khả năng tự chăm sóc, cá nhân nên tuân thủ hướng dẫn tự chăm sóc của CDC. Các IHE cũng có thể khuyến khích các cá nhân theo dõi các dấu hiệu cảnh báo cấp cứu và tìm kiếm chăm sóc y tế khẩn cấp nếu xuất hiện những triệu chứng này.

Với hầu hết những người mắc COVID-19, thông thường, họ có thể ngừng cô lập và biện pháp phòng ngừa sau 10 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng và dứt hẳn sốt đủ 24 giờ mà không cần sử dụng thuốc hạ sốt và các triệu chứng khác đã cải thiện.

Với người chưa từng có triệu chứng, thời gian ngừng cô lập và biện pháp phòng ngừa khác có thể kết thúc sau 10 ngày kể từ ngày lấy mẫu xét nghiệm cho xét nghiệm RT-PCR SARS-CoV-2 RNA đầu tiên có kết quả dương tính.

Cách ly được sử dụng để tách người có thể đã phơi nhiễm SARS-CoV-2 với những người khác. Cách ly giúp ngăn ngừa sự lây lan của bệnh có thể xảy ra trước khi một người biết rằng họ mắc bệnh hoặc nếu họ bị nhiễm vi-rút mà không trải qua triệu chứng. Những người bị cách ly nên ở nhà, tách mình khỏi những người khác, theo dõi sức khỏe của họ và làm theo chỉ dẫn từ sở y tế tiểu bang hoặc địa phương.

Người tiếp xúc gần với người dương tính và đã xác định, chẳng hạn như bạn cùng phòng, bạn cùng căn hộ, người ở cùng khu chung cư, huấn luyện viên có tiếp xúc trực tiếp và đồng nghiệp của giảng viên/nhân viên nên được cách ly và xét nghiệm SARS-CoV-2. Tất cả những người được cách ly nên tuân thủ hướng dẫn sẵn có của CDC, ở nguyên tại nơi cư trú hiện tại (trong phòng riêng, nếu có thể) hoặc sắp xếp chỗ ở khác, và theo dõi sức khỏe trong giai đoạn cách ly được chỉ định sau lần tiếp xúc gần nhất với người mắc COVID-19.

Người tiếp xúc gần nên cách ly trong 14 ngày, dù kết quả xét nghiệm ban đầu của họ là dương tính hay âm tính. Tùy theo tình hình địa phương và nguồn lực, các lựa chọn rút ngắn thời gian cách ly có thể bao gồm cách ly trong 10 ngày hoặc cách ly 7 ngày kết hợp xét nghiệm.

Dành cho Học Sinh

Ban giám hiệu IHE và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên đưa ra các phương án để tách ngay những sinh viên mắc COVID-19 và người tiếp xúc gần với họ bằng cách tổ chức các mô hình học tập qua mạng và những phòng tự cách ly và tự cô lập trong ký túc xá hay chỗ ở khác. Các sinh viên phải được hỗ trợ kiểm soát triệu chứng COVID-19, bao gồm chăm sóc y tế khi cần, cũng như hỗ trợ kiểm soát các vấn đề cảm xúc liên quan đến thời gian cách ly hoặc cô lập, cũng như có sắp xếp dịch vụ ăn uống thay thế cho người sống trong khu trường sở.

Đối với giảng viên và nhân viên

Ban giám hiệu IHE nên đưa ra các phương án dạy học thay thế và làm việc tại nhà dành cho giảng viên, huấn luyện viên và nhân viên mắc COVID-19 hoặc đã được xác định là người tiếp xúc gần, nếu họ đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc từ xa. IHE nên cân nhắc triển khai chế độ nghỉ bệnh linh hoạt và các chính sách, biện pháp hỗ trợ.

Kế hoạch truyền thông

IHE nên triển khai các chiến dịch truyền thông với các chiến lược khả thi, dựa trên hành vi để tăng cường phòng ngừa, xét nghiệm, cô lập và cách ly. Các kế hoạch truyền thông về phòng ngừa cũng phải đề cập đến mọi hướng dẫn liên quan về việc trở lại khu trường sở sau khi đi du lịch (ví dụ như nghỉ lễ, đi thi đấu thể thao, v.v.).

Theo luật pháp và quy định tiểu bang, khu vực, bộ lạc và địa phương, các IHE nên chuẩn bị một kế hoạch truyền thông với những người có kết quả chẩn đoán COVID-19 đã xác nhận và người nghi nhiễm COVID-19, cũng như kế hoạch để truyền tải thông tin liên quan về những ca đã biết cho sinh viên, giảng viên và nhân viên sao cho vẫn bảo vệ dược thông tin nhận dạng cá nhân của họ. Nếu không thể bảo đảm quyền riêng tư, IHE cũng nên thông báo về kết quả xét nghiệm SARS-CoV-2 và các triệu chứng thông qua việc khai báo tự nguyện của sinh viên, giảng viên và nhân viên của họ.

Xét nghiệm cho người từng có kết quả dương tính

CDC KHÔNG khuyến khích xét nghiệm lại cho người không có triệu chứng và đã có kết quả dương tính trong vòng 3 tháng kể từ ngày xét nghiệm ban đầu. Dữ liệu hiện cho thấy một số người từng nhiễm SARS-CoV-2 trước đây vẫn sẽ tiếp tục cho kết quả xét nghiệm dương tính do vật chất còn tồn đọng của vi-rút, nhưng khả năng lây nhiễm của họ gần như không có.

Tiêm chủng và xét nghiệm SARS-CoV-2

Việc từng tiêm vắc-xin COVID-19 trước đó sẽ không ảnh hưởng đến xét nghiệm vi-rút SARS-CoV-2 (NAAT hoặc kháng nguyên). Hiện không khuyến nghị xét nghiệm kháng thể để đánh giá mức độ miễn dịch với SARS-CoV-2 sau khi tiêm phòng COVID-19 hay để đánh giá nhu cầu tiêm chủng ở người chưa được tiêm chủng. Hướng dẫn về các chiến lược xét nghiệm dành cho người đã được tiêm chủng đầy đủ sẽ được đưa ra sau khi có thêm thông tin.

Công bằng y tế trong xét nghiệm SARS-CoV-2

Chiến lược công bằng y tế ứng phó với COVID-19 đã vạch ra một kế hoạch để giảm thiểu tác động của COVID-19 trong các nhóm chủng tộc và sắc tộc thiểu số và những nhóm đối tượng khác (ví dụ như người lao động ở tuyến đầu và thiết yếu, người sinh sống ở khu vực nông thôn hoặc biên giới) đã phải chịu gánh nặng không cân xứng do COVID-19. Các bên nên nỗ lực để giải quyết những rào cản có thể vô tình hoặc khách quan tạo ra sự bất công trong xét nghiệm. IHE nên cố gắng đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ xét nghiệm công bằng cho mọi sinh viên, giảng viên và nhân viên, đặc biệt là những nhân viên được xem là "thiết yếu". Sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính trả về, IHE nên tìm cách đảm bảo những hành động đối với sinh viên, giảng viên và nhân viên đó (VD: cô lập trong hoặc ngoài khu trường sở, làm việc tại nhà và các phương án học tập trực tuyến) được triển khai sao cho có cân nhắc đến sự công bằng y tế cũng như đảm bảo họ được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực và dịch vụ hỗ trợ.

Ngoài ra, sự hoàn chỉnh về dữ liệu chủng tộc và dân tộc là một yếu tố quan trọng để hiểu được tác động của COVID-19 đối với các nhóm chủng tộc và dân tộc thiểu số. Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh Hoa Kỳ đã yêu cầu các phòng thí nghiệm và cơ sở xét nghiệm phải báo cáoexternal icon dữ liệu về chủng tộc và dân tộc cho các sở y tế, ngoài các yếu tố dữ liệu khác, về những người đã xét nghiệm SARS-CoV-2 hoặc được chẩn đoán mắc COVID-19. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nhân viên y tế công cộng cần hỏi và ghi chép lại chủng tộc và dân tộc của bất cứ người nào nhận kết quả xét nghiệm thuộc diện cần báo cáo và đảm bảo những dữ liệu này được báo cáo cùng với kết quả xét nghiệm của người đó, nhằm tạo điều kiện để hiểu rõ tác động của COVID-19 lên các nhóm chủng tộc và dân tộc thiểu số.

Tham Khảo

  1. The CDC Field Epidemiology Manual: Community and Congregate Settings. https://www.cdc.gov/eis/field-epi-manual/chapters/community-settings.html
  2. Fox MD, Bailey DC, Seamon MD, Miranda ML. Response to a COVID-19 Outbreak on a University Campus — Indiana, August 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2021;70:118-122. DOI: http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm7004a3external icon.
  3. Honein MA, Christie A, Rose DA, et al. Tóm tắt hướng dẫn cho các chiến lược y tế công cộng để đề cập tới mức lây truyền cộng đồng cao về SARS-CoV-2 và số ca tử vong có liên quan, tháng 12, 2020. MMWR Báo Cáo Hàng Tuần về Mắc Bệnh và Tử Vong 2020;69:1860-1867. DOI: http://dx.doi.org/10.15585/mmwr.mm6949e2external icon
  4. Losina E, Leifer V, Millham L, et al. College campuses and COVID-19 mitigation: clinical and economic value. Ann Intern Med. September 2020. DOI :10.7326/M20-6558.
  5. National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine 2020. COVID-19 Testing Strategies for Colleges and Universities. Washington, DC: Nhà xuất bản Học viện Quốc gia. https://doi.org/10.17226/26005biểu tượng bên ngoài.