Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Trang web này được cập nhật thường xuyên. Một số nội dung có thể còn bằng tiếng Anh cho đến khi được dịch hết.

Giám sát bộ gen đối với các biến thể của SARS-CoV-2

Giám sát bộ gen đối với các biến thể của SARS-CoV-2
Cập nhật ngày 2 tháng 4 năm 2021
In

Các vi-rút biến đổi liên tục trong đó có cả SARS-CoV-2, vi-rút gây bệnh COVID-19. Những biến thể gen này xuất hiện theo thời gian và có thể  dẫn tới việc xuất hiện các biến thể mới với những đặc tính khác.

Các hướng dẫn mã hóa bộ gen SARS-CoV-2 được sắp xếp thành các phần đoạn, gọi là gen để tạo ra vi-rút. Các nhà khoa học dùng quy trình gọi là xác định chuỗi bộ gien để giải mã gen và tìm hiểu thêm về vi-rút đó. Genomic sequencing allows scientists to identify SARS-CoV-2 and monitor how it changes over time into new variants, understand how these changes affect the characteristics of the virus, and use this information to better understand how it might impact health.

For example, some variant viruses are of particular concern because they spread easier, cause more severe disease, or may escape the body’s immune response.

As CDC and public health partners sequence more SARS-CoV-2 genomes, we will improve our understanding of which variants are circulating in the US, how quickly variants emerge, and which variants are the most important to characterize and track in terms of health.

Bộ gen SARS-CoV-2

Gen trong bộ gen SARS-CoV-2 có chứa hướng dẫn để tạo ra một số phần của vi-rút được thể hiện qua các màu khác nhau. For example, the brown section in the picture has genetic instructions to build the spike protein, which then allows the virus to attach to human cells during infection. Phần này của bộ gen trở thành phần quan trọng để theo dõi đột biến.

Bộ gen SARS-CoV-2

Gen trong bộ gen SARS-CoV-2 có chứa hướng dẫn để tạo ra một số phần của vi-rút được thể hiện qua các màu khác nhau. For example, the brown section in the picture has genetic instructions to build the spike protein, which then allows the virus to attach to human cells during infection. Phần này của bộ gen trở thành phần quan trọng để theo dõi đột biến.

Các vi-rút biến đổi liên tục trong đó có cả SARS-CoV-2, vi-rút gây bệnh COVID-19. Những biến thể gen này xuất hiện theo thời gian và có thể  dẫn tới việc xuất hiện các biến thể mới với những đặc tính khác.

Các hướng dẫn mã hóa bộ gen SARS-CoV-2 được sắp xếp thành các phần đoạn, gọi là gen để tạo ra vi-rút. Các nhà khoa học dùng quy trình gọi là xác định chuỗi bộ gien để giải mã gen và tìm hiểu thêm về vi-rút đó. Genomic sequencing allows scientists to identify SARS-CoV-2 and monitor how it changes over time into new variants, understand how these changes affect the characteristics of the virus, and use this information to better understand how it might impact health.

For example, some variant viruses are of particular concern because they spread easier, cause more severe disease, or may escape the body’s immune response.

As CDC and public health partners sequence more SARS-CoV-2 genomes, we will improve our understanding of which variants are circulating in the US, how quickly variants emerge, and which variants are the most important to characterize and track in terms of health.

Biến thể xảy ra như thế nào?

bộ gen-vỏ bọc

The virus genome is packed inside an envelope that contains proteins, including the spike protein.

Đột biến là những thay đổi trong mã gen của vi-rút thường xảy ra theo thời gian khi một động vật hoặc một người bị nhiễm bệnh. Dù một lượng nhất định biến thể gen có thể xảy ra khi SARS-CoV-2 lây lan, điều quan trọng là giám sát các vi-rút đang hoành hành xem các đột biến chính xảy ra ở các khu vực quan trọng của bộ gen. Nhiều đột biến không tác động đến khả năng lây lan của vi-rút hoặc gây ra bệnh vì chúng không thay đổi các protein chính liên quan tới việc lây nhiễm bệnh; cuối cùng những biến thể này bị loại bỏ bởi các biến thể có đột biến có lợi hơn cho vi rút.

To find more information about the mutations and variants CDC is monitoring in the US and globally, go to the SARS-CoV-2 Variants page.

Biến thể xảy ra như thế nào?

Đột biến là những thay đổi trong mã gen của vi-rút thường xảy ra theo thời gian khi một động vật hoặc một người bị nhiễm bệnh. Dù một lượng nhất định biến thể gen có thể xảy ra khi SARS-CoV-2 lây lan, điều quan trọng là giám sát các vi-rút đang hoành hành xem các đột biến chính xảy ra ở các khu vực quan trọng của bộ gen. Nhiều đột biến không tác động đến khả năng lây lan của vi-rút hoặc gây ra bệnh vì chúng không thay đổi các protein chính liên quan tới việc lây nhiễm bệnh; cuối cùng những biến thể này bị loại bỏ bởi các biến thể có đột biến có lợi hơn cho vi rút.

Để tìm thêm thông tin về các đột biến và biến thể, CDC đang giám sát tình hình tại Hoa Kỳ và trên toàn cầu, hãy tới trang Biến thể SARS-CoV-2.

bộ gen-vỏ bọc

Bộ gen của vi-rút được bao bên trong một vỏ bọc chứa protein, bao gồm protein Gai.

CDC đang làm gì để theo dõi các biến thể SARS-CoV-2?

Tại Hoa Kỳ, CDC theo dõi các biến thể mới xuất hiện qua việc giám sát bộ gen bằng các phương thức tiếp cận sau:

biểu tượng vi-rút tô kín

Dẫn dắt hệ thống Giám sát chủng SARS-CoV-2 quốc gia (NS3) 

Từ tháng 11 năm 2020, CDC thường nhận được các mẫu SARS-CoV-2 từ các sở y tế của tiểu bang và tổ chức y tế công cộng để xác định chuỗi, tìm thêm đặc tính và đánh giá. Vào ngày 25 tháng 1, 2021, hệ thống NS3 đã được mở rộng để xử lý 750 mẫu mỗi tuần. Điểm mạnh đáng chú ý của hệ thống này là việc thu thập thường xuyên nhiều mẫu xét nghiệm đại diện từ khắp đất nước và xác định đặc tính của vi-rút ngoài những gì mà chỉ trình tự giải mã có thể cung cấp.

Tài liệu hướng dẫn đệ trình NS3external icon

Các mẫu NS3 thể hiện dưới dạng cây phát sinh chủng loạiexternal icon

Công bố các chuỗi trình tự gen COVID-19 

biểu tượng phòng thí nghiệm

Hợp tác với các phòng thí nghiệm chẩn đoán thương mại

CDC đang hợp tác với các phòng thí nghiệm chẩn đoán thương mại lớn để giải mã các mẫu trên khắp Hoa Kỳ. CDC đã có được các cam kết từ các phòng thí nghiệm này để giải mã 6.000 mẫu mỗi tuần với năng lực được mở rộng để ứng phó với nhu cầu của quốc gia.

biểu tượng địa điểm nổi tiếng

Hợp tác với các trường đại học

CDC đã ký hợp đồng với bảy trường đại học để tiến hành nghiên cứu giám sát bộ gen có hợp tác với các tổ chức y tế công cộng. Các nghiên cứu là để cung cấp thông tin chuyên sâu hơn vào bộ gen vi-rút và dịch tễ học phân tử ở các vùng khác nhau trên toàn quốc.

CDC dành gần $9 triệu dành cho việc giải mã SARS-CoV-2

biểu tượng bản đồ hoa kỳ

Hỗ trợ các sở y tế tiểu bang, lãnh thổ, địa phương và bộ lạc

Kể từ 2014, chương trình Phát hiện phân tử nâng cao của CDC đa được tích hợp với khả năng giải mã thế hệ kế tiếp và tin sinh học vào hệ thống y tế công của Hoa Kỳ. Một số sở y tế địa phương và tiểu bang đã áp dụng các nguồn thông tin này khi ứng phó với  COVID-19. Sở y tế công cộng hỗ trợ các cuộc điều tra tại địa phương, tiến hành nghiên cứu và tạo dữ liệu bộ gen có sẵn tại các cơ sở dữ liệu công cộng. Để hỗ trợ cho những nỗ lực này, ngày 18 tháng 12, 2020, CDC đã giải ngân $15 triệu từ các quỹ bổ sung COVID qua Chương trình năng lực phòng thí nghiệm và dịch tễ học .

biểu tượng hệ thống SPHERES

Dẫn dắt liên doanh về Quy trình Giải Mã Chuỗi Gien SARS-CoV-2 Phục Vụ Ứng Phó Cấp Cứu Sức Khỏe Công Cộng, Dịch Tễ Học và Giám Sát (SPHERES)

Kể từ đầu đại dịch, CDC đã dẫn dắt một hiệp hội quốc gia các phòng thí nghiệm giải mã SARS-CoV-2 (SPHERES). Liên minh SPHERES bao gồm hơn 160 tổ chức, bao gồm các trung tâm học thuật, ngành nghề, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức y tế công. Thông qua hoạt động phối hợp này, dữ liệu bộ gen được tạo sẵn qua các cơ sở dữ liệu công cộng để các nhà nghiên cứu, các chuyên viên y tế công và ngành sử dụng.

Tại sao việc giám sát bộ gen lại quan trọng đối với y tế công?

  • Khả năng lây lan nhanh hơn với con người
  • Khả năng gây ra bệnh nhẹ hơn hay nghiêm trọng hơn ở người
  • Khả năng tránh phát hiện bởi các xét nghiệm chẩn đoán cụ thể 
    Many commercial nucleic acid amplification tests (NAATs) that use reverse transcription polymerase chain reaction (RT-PCR) have multiple targets to detect the virus, such that even if a mutation impacts one of the targets, the other RT-PCR targets will still work. Tuy nhiên có một số xét nghiệm chỉ dựa vào một mục tiêu và các biến thể có thể tác động tới khả năng hoạt động của chúng. FDA đang dùng dữ liệu giải mã của y tế công cộng để theo dõi các biến thể và tác động của chúng đối với thiết kế xét nghiệm chẩn đoán độc quyền/bảo mật.
  • Decreased susceptibility to medical therapies that employ monoclonal antibodies
    Phương thức trị liệu đó liên quan tới các kháng thể được thiết kế riêng nhắm tới các khu vực của vi-rút để chặn lây nhiễm. Vì những biện pháp điều trị này đặc hiệu hơn các kháng thể được tạo ra từ phản ứng miễn dịch tự nhiên nên chúng có thể kém hiệu quả hơn với các biến thể mới xuất hiện.
  • Khả năng tránh miễn dịch tự nhiên hoặc do vắc xin gây ra 
    Cả việc nhiễm bệnh tự nhiên và tiêm chủng ngừa SARS-CoV-2 đều tạo ra phản ứng kháng thể "đa dòng" nhắm tới một số phần của protein gai. Vi-rút cần tích tụ các đột biến đáng kể trong protein gai để tránh miễn dịch do vắc-xin tạo ra hoặc do nhiễm bệnh tự nhiên.

Trong số những khả năng này, khả năng tránh miễn dịch do vắc-xin tạo ra sẽ là vấn đề đáng lo ngại nhất. Hiện vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn rằng chuyện này đang xảy ra nhưng các nhà khoa học đang đánh giá kỹ lưỡng khả năng này.